Bài viết

PHAN TRI (1916 - 1997) (1)

Đà Nẵng02/12/2025Đoàn xã Tam Xuân (Đoàn xã Tam Xuân)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Đồng chí Phan Tri có bí danh là Sanh Bình, sinh ngày 16 tháng 6 năm 1916, tại ấp 1, xã Xuân Quang, phủ Tam Kỳ, nay là thôn Sâm Linh, xã Tam Quang, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam. Sinh ra trong một gia đình ngư dân nghèo, cần cù lao động, có tinh thần yêu nước.

Năm 1934, khi mới 18 tuổi, Phan Tri được các đồng chí Nguyễn Thế Kỷ, Huỳnh Hòa, Trần Nhiên giác ngộ, giao nhiệm vụ hoạt động trong tổ chức cứu tế đỏ, hội trợ tang để tập hợp quần chúng ở địa phương. Giữa tháng 5 năm 1935, Tỉnh ủy lâm thời Quảng Nam và Phủ ủy Tam Kỳ bị lộ, địch tập trung khủng bố, nhiều đảng viên ở xã Xuân Quang bị địch truy bắt cùng 40 cán bộ cốt cán của tỉnh Quảng Nam và phủ Tam Kỳ. Riêng Phan Tri bị địch nghi ngờ theo dõi giám sát chứ chưa đủ chứng cớ để bắt.

Tháng 4 năm 1936, Mặt trận Bình dân ở Pháp lên cầm quyền, ban bố một số chính sách dân chủ cho các nước thuộc địa. Các cán bộ, đảng viên ở xã Xuân Quang được trả tự do, đồng chí Nguyễn Thế Kỷ về củng cố lại chi bộ Xuân Quang, Phan Tri được chi bộ đưa vào đối tượng bồi dưỡng phát triển Đảng. Sau hơn một năm thử thách, ngày 20 tháng 10 năm 1937, Phan Tri được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Là một đảng viên trẻ, mặc dù trình độ học vấn còn hạn chế, nhưng với lòng nhiệt huyết cách mạng, tình yêu quê hương đất nước cháy bỏng đã thôi thúc đồng chí hăng hái hoạt động và ngày 20 tháng 02 năm 1938 đồng chí trở thành đảng viên chính thức của Đảng.

Trước những chính sách thuế khóa nặng nề của bọn thực dân phong kiến, giữa năm 1938, Đảng bộ phủ Tam Kỳ lãnh đạo các tầng lớp nhân dân đấu tranh đòi bãi bỏ các thứ thuế như lò rèn, bộng ép dầu, tiệm hớt tóc, buôn bán hàng xén, thuế môn bài của thuyền đánh cá; đòi trừng phạt thái độ hách dịch của bọn lý hương; đòi duy trì và mở rộng các lớp học tư thục để con em dân nghèo được cắp sách đến trường... Đồng chí Phan Tri là một đảng viên gương mẫu, tích cực tổ chức thực hiện các chủ trương của Phủ ủy, của chi bộ; động viên hơn một trăm người tham gia các phong trào trên ở địa phương.

Thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy, Phủ ủy Tam Kỳ quyết định tổ chức một cuộc mít tinh lớn tại Núi Cấm - Quảng Phú (nay thuộc xã Tam Phú, thành phố Tam Kỳ) nhân kỷ niệm ngày Cách mạng tư sản Pháp, nhằm phát động phong trào cách mạng, đấu tranh đòi quyền lợi dân sinh dân chủ, chống chế độ cai trị của thực dân Pháp và bọn quan lại Nam Triều, phát huy ảnh hưởng của Đảng trong nhân dân. Đồng chí Phan Tri cùng các đảng viên của các chi bộ Xuân Quang, Diêm Trường, An Hòa tổ chức đưa hàng trăm người dân chèo thuyền dọc sông Trường Giang về dự lễ mítting. Rạng sáng ngày 14 tháng 7, ghe thuyền tấp nập tại bến sông Cồn Sạp trước đình Quảng Phú. Cuộc mít tinh được tổ chức trang nghiêm, chỉnh tề hàng ngũ, băng cờ khẩu hiệu đỏ rợp một vùng; người dự hô vang các khẩu hiệu: “Đảng Cộng sản Đông Dương muôn năm”, “Đả đảo chế độ cai trị thực dân phong kiến”, “Độc lập tự do, cơm áo, hòa bình”... Sau cuộc mít tinh, Tri phủ Tam Kỳ ra lệnh bắt 70 cán bộ đảng viên và quần chúng trung kiên, trong đó có đồng chí Phan Tri, về phủ đường truy xét. Đồng chí giam giữ 20 ngày tại nhà lao Tam Kỳ. Tuy địch dùng nhiều cực hình tra tấn để hỏi cung, tìm tổ chức của Đảng để đánh phá nhưng đồng chí đã kiên quyết không khai báo, làm cho chúng không có bằng chứng nên buộc phải thả. Trở về từ nhà giam, đồng chí tiếp tục lãnh đạo phong trào cách mạng ở địa phương.

Ngày 01 tháng 9 năm 1939, chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ, Chính phủ Bình dân ở Pháp bị đổ, chính phủ phản động lên nắm quyền. Ở Đông Dương, chúng lập tức thi hành hàng loạt chính sách phát xít. Giải tán các tổ chức yêu nước, thủ tiêu các quyền tự do dân chủ của nhân dân, truy bắt những người cộng sản. Đảng bộ phủ Tam Kỳ bị địch bắt 30 đồng chí. Riêng chi bộ Xuân Quang đã kịp thời chuyển vào hoạt động bí mật nên giữ được tổ chức. Chi bộ Xuân Quang là chỗ dựa cho các cán bộ thoát ly như: Võ Toàn (Võ Chí Công), Nguyễn Sắc Kim, Đào Thuần Thăng, Nguyễn Thế Kỷ, Lê Thuyết ... về trụ bám móc nối thành lập lại Phủ ủy lâm thời Tam Kỳ; hình thành ban liên lạc để lập lại Tỉnh ủy Quảng Nam. Đồng chí Phan Tri đã có những đóng góp đáng kể vào quá trình khôi phục tổ chức Đảng và phong trào cách mạng của huyện.

Những tháng cuối năm 1940, đầu năm 1941, phong trào quần chúng đang có sự chuyển biến mạnh mẽ thì tháng 4 năm 1941 xảy ra vụ khủng bố lớn. Đồng chí Phan Tri và một số đảng viên của chi bộ Xuân Quang bị địch bắt. Chúng tập trung tra hỏi các tổ chức biến tướng của Đảng như Hội Ái hữu, Hội Cứu tế đỏ... Chúng tra tấn, đánh đập nhưng không tìm ra manh mối về sự hoạt động của Đảng nên buộc phải thả đồng chí.

Trở về, đồng chí Phan Tri bắt tay vào hoạt động ngay. Lúc này, phong trào cách mạng của địa phương phát triển đều khắp, chi bộ Xuân Quang tiếp thu được điều lệ của Mặt trận Việt Minh, thư hiệu triệu của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, thành lập ban vận động cứu quốc, tổ chức tự vệ làm nhiệm vụ bảo vệ cán bộ và các cuộc hội họp. Địch theo dõi và phát hiện cơ quan Xứ ủy Trung kỳ đóng tại phía Nam của phủ Tam Kỳ nên chúng tập trung khủng bố, đồng chí Phan Tri lại bị địch bắt cùng một số đảng viên của chi bộ Xuân Quang. Tại nhà lao Hội An, do bị địch tra tấn dã man, có một đảng viên không chịu đựng nổi cực hình của địch đã khai báo đồng chí Tri và mang ra đối chất. Đứng trước hoàn cảnh và thử thách nghiệt ngã đó, đồng chí đã chọn con đường thà chết chứ nhất định phải bảo tồn bằng được cơ sở cách mạng và khí tiết người cộng sản. Đồng chí kiên quyết không nhận, địch tra tấn dã man, đồng chí chết đi, sống lại nhiều lần. Không khuất phục được tinh thần và ý chí đấu tranh của đồng chí, địch buộc phải kết án đồng chí Phan Tri 6 năm tù giam và 20 năm quản thúc, chúng giam đồng chí Tri ở nhà lao tỉnh và nhà lao Hội An.

Mặc dù sống dưới chế độ hà khắc của nhà tù, đồng chí vẫn giữ vững khí tiết cách mạng, liên tục đấu tranh bằng nhiều hình thức, chống sự đàn áp của kẻ thù, bảo vệ cách mạng, đòi quyền lợi cho tù nhân. Đồng chí đã tham gia cuộc đấu tranh tuyệt thực 7 ngày đầu năm 1943 tại nhà lao Hội An, góp phần gây tiếng vang lớn ra bên ngoài, cổ vũ phong trào của quần chúng nhân dân. Nhà tù đã đào luyện đồng chí trở thành cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, có ý chí quyết tâm sắt đá, sẵn sàng đương đầu với những thử thách khắc nghiệt của cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc.

Tháng 3 năm 1945, phát xít Nhật đảo chính lật đổ nền thống trị của thực dân Pháp trên toàn cõi Đông Dương, đồng chí Phan Tri cùng anh em ở nhà tù Hội An đấu tranh buộc địch phải trả tự do. Nhờ có sự chuẩn bị trước trong tù nên khi trở về địa phương đồng chí bắt liên lạc được ngay với đồng chí Nguyễn Thế Kỷ, tham gia chuẩn bị lực lượng sẵn sàng khởi nghĩa giành chính quyền khi thời cơ đến.

Theo sự chỉ đạo của Tỉnh ủy Quảng Nam và Phủ ủy Tam Kỳ, các địa phương cần khẩn trương tổ chức lực lượng tự vệ cứu quốc, bí mật luyện tập quân sự, mua sắm vũ khí. Các xã Xuân Quang, Diêm Trường, An Hòa có vị trí địa lý thuận lợi, lại có phong trào cách mạng khá sâu rộng nên Tỉnh ủy Quảng Nam chọn làm nơi thành lập đội du kích vũ trang đầu tiên của tỉnh mang tên Đội du kích Vũ Hùng.

Tháng 7 năm 1945, phong trào cách mạng trong xã phát triển mạnh mẽ, các hoạt động của ta hầu như công khai, bộ máy ngụy quyền tê liệt. Nhân dân ủng hộ Mặt trận Việt Minh. Đồng chí Phan Tri được phân công vào Ủy ban bạo động của xã Xuân Quang. Ngày 15 tháng 8 năm 1945, Nhật đầu hàng Đồng minh, đêm ngày 17 rạng sáng ngày 18 tháng 8, khởi nghĩa giành chính quyền ở Hội An. Ngày 18 tháng 8, Phủ ủy Tam Kỳ lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa giành chính quyền. Dưới sự chỉ đạo của các đồng chí Phan Quang Trọng, Lê Thanh Hải, đồng chí tham gia chỉ huy lực lượng tự vệ các xã Diêm Trường, Xuân Quang, Vân Trai... kéo xuống bao vây chiếm đồn Thương Chánh - Hiệp Hòa, buộc tên đồn trưởng giao nộp vũ khí, tài sản. Chính quyền cách mạng của xã Xuân Quang và của tổng An Hòa đã thuộc về nhân dân.

Sau Cách mạng tháng 8 thành công, đồng chí Phan Tri tiếp tục được tín nhiệm giữ chức Bí thư chi bộ kiêm chủ tịch xã Xuân Quang. Năm 1948, khi sáp nhập các xã Diêm Trường, Xuân Quang, An Hòa thành xã Tam Hải (nay bao gồm các xã Tam Giang, Tam Hải, Tam Quang, huyện Núi Thành), đồng chí làm Phó Bí thư Xã ủy ủy kiêm Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến - Hành chính xã cho đến ngày Hiệp định được ký kết.

Là một cán bộ có kinh nghiệm trong hoạt động bí mật, dũng cảm trong đấu tranh cách mạng nên đồng chí được Huyện ủy Tam Kỳ phân công ở lại lãnh đạo nhân dân đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Giơnevơ, thống nhất nước nhà.

Đầu tháng 9 năm 1954, địch tiếp quản vùng tự do huyện Tam Kỳ, sử dụng những tên phản động, thiết lập bộ máy chính quyền cơ sở, tiến hành truy quét khủng bố cán bộ đảng viên, lực lượng kháng chiến cũ, đàn áp nhân dân, phá hoại Hiệp định, tiếp tục gây chiến tranh.

Ngày 10 tháng 10 năm 1954, Quốc dân đảng, ngụy quyền quận Tam Kỳ bắt đầu đánh phá các xã thuộc tổng An Hòa. Chúng bắt 3 cán bộ kháng chiến cũ của ta ở lại miền Nam gồm: Phan Tri - nguyên Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến - Hành chính xã, Nguyễn Tưởng - Chính trị viên xã đội và Bùi Thạnh - Xã đội trưởng. Chúng đưa ba đồng chí về giam ở một ngôi nhà nhỏ (nay thuộc xã Tam Quang) và tra tấn trong ba ngày liên tục bằng những thủ đoạn vô cùng tàn bạo, không cho ăn uống, nhưng bọn chúng bất lực trước tinh thần chiến đấu của các đồng chí. Đến tối ngày thứ ba, địch đưa ba đồng chí lên cơ quan khu Nam (nay thuộc xã Tam Anh). Lại thêm một ngày bị tra tấn nhưng các đồng chí vẫn không khai báo một lời. Tối ngày 17 tháng 10 năm 1954, chúng dùng ca nô chở ba đồng chí ra cửa biển An Hòa để thủ tiêu.

Biết trước dã tâm của địch, đồng chí Phan Tri bàn bạc với đồng chí Bùi Thạnh và đồng chí Nguyễn Tưởng, trước khi chết ngẩng cao đầu, quyết không bao giờ đầu hàng địch, phản bội lý tưởng chiến đấu của Đảng. Khi ca nô đến nơi, bọn lính kéo quy-lách súng để lên đạn, đèn dẫn đường vụt tắt. Chúng lần lượt kéo lê đồng chí Tưởng và đồng chí Thạch lên, rồi dùng kéo, dao cắt tóc, cạo tóc, sau đó bôi sơn, rồi lại dùng dao cắt tai, mũi và các cơ thịt trên chân tay của hai đồng chí, sau đó bỏ vào bao, cột chặt miệng, nối với bao đá đẩy xuống biển. Tiếp đến chúng lôi đồng chí Phan Tri, rồi cắt tóc, cạo tóc, bôi sơn, và sau đó cột chân tay và bỏ vào bao. Đồng chí Phan Tri nảy ra ý nghĩ là nhảy xuống biển quyết không để địch giết hại và dùng hơi sức cuối cùng chống chế không để cho chúng bỏ vào bao và hô vang các khẩu hiệu: Đảng Lao động Việt Nam muôn năm!, Hồ Chủ tịch muôn năm !, Đả đảo Ngô Đình Diệm !”. Dứt lời đồng chí Phan Tri vùng mạnh, tên địch trói đồng chí quá bất ngờ bị tuột tay. Nhanh như chớp, đồng chí lao mình xuống biển lặn một đoạn mới trồi lên mặt nước. Địch xả súng bắn theo, nhưng đồng chí đã bơi ra xa, thoát khỏi tầm kiểm soát của chúng.

Bọn địch nghĩ đồng chí Tri, sau 7 ngày bị tra tấn, không được ăn uống, nên khi nhảy xuống biển sẽ chết, nên chúng yên tâm bỏ về. Với kinh nghiệm của những năm tháng bám biển đã giúp đồng chí định hướng bằng những ngôi sao đêm để bơi vào bờ. Trên đường, đồng chí gặp thuyền của anh Châu và được vớt lên đưa vào nhà cơ sở chăm sóc, bắt liên lạc với Huyện ủy để xin chỉ thị. Đồng thời chỉ đạo quần chúng dùng ghe thuyền tìm xác hai đồng chí Thạnh và Tưởng về để đấu tranh vạch trần tội ác của địch. Cuộc đấu tranh diễn ra quyết liệt, quần chúng khiêng xác hai đồng chí đến trụ sở xã Tam Hải buộc phải bồi thường nhân mạng. Bọn tay sai bị đuổi đánh phải bỏ chạy về quận; chỉ huy quân đội liên hiệp Pháp phải ký vào biên bản thừa nhận vi phạm điều 14C của Hiệp định là trả thù những người kháng chiến cũ.

Để bảo toàn tính mạng cho đồng chí Phan Tri, Huyện ủy Tam Kỳ, Tỉnh ủy Quảng Nam quyết định đưa đồng chí cùng với 30 đồng chí vào Quy Nhơn để tố cáo tội ác của chính quyền Ngô Đình Diệm trước công luận quốc tế và trong nước. Tháng 5 năm 1955, đồng chí hoàn thành nhiệm vụ ở Ban liên lạc thi hành Hiệp định, lên tàu tập kết ra miền Bắc.

Những năm ở miền Bắc, đồng chí giữ các chức vụ Bí thư Đảng ủy kiêm Thư ký công đoàn, Trưởng phòng Kho vận Công ty Bách hóa Hà Nội, trại trưởng trại Cam Nhân Lễ, Chủ nhiệm quốc doanh cá Đông Anh, Hà Nội. Cuối năm 1974, đồng chí được Đảng và Nhà nước cho nghỉ hưu.

Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng đồng chí về quê. Tuy sức khỏe đã giảm sút, nhưng trước yêu cầu của quê hương mới giải phóng đồng chí vẫn hăng hái tham gia công tác, làm Bí thư chi bộ xã, sau là Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Tam Quang, có nhiều đóng góp cho phong trào cách mạng ở địa phương. Năm 1982, do bị bệnh nặng, đi lại khó khăn, đồng chí xin nghỉ việc. Năm 1997, đồng chí qua đời tại quê nhà.

81 tuổi đời, 60 tuổi Đảng, đồng chí Phan Tri tuy không giữ những chức vụ cao trong bộ máy của Đảng và chính quyền, nhưng quá trình hoạt động cách mạng của đồng chí đã có những đóng góp tích cực cho địa phương, để lại những dấu ấn khó phai mờ trong lòng nhân dân. Tinh thần đấu tranh cách mạng kiên cường bất khuất của đồng chí khiến kẻ thù run sợ. Sự kiện chính quyền Ngô Đình Diệm âm mưu thủ tiêu, dìm thi thể đồng chí xuống biển để phi tang tội ác nhưng không thành chính là trí thông minh, lòng quả cảm của người cộng sản không bao giờ khuất phục trước vũ lực của kẻ thù. Đồng chí đã thoát chết trong gang tấc và trở thành huyền thoại trong lịch sử đấu tranh cách mạng của quê hương Quảng Nam.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn