Anh hùng Lực lượng vũ trang

PHAN TRỌNG DƯỜNG – NGƯỜI CHIẾN SĨ BỀN GAN GIỮA NÚI RỪNG TÂY NGUYÊN

Năm 1950, khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bước vào giai đoạn cam go, người thanh niên Phan Trọng Dường, quê xã Xuân Long, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên, vừa tròn 24 tuổi đã tình nguyện nhập ngũ. Bốn năm sau đó, từ những vùng rừng núi hiểm trở đến các bản làng còn xa lạ với cách mạng, người chiến sĩ bộ đội tình nguyện không chỉ chiến đấu mà còn kiên trì gây dựng cơ sở, vận động nhân dân, đặt những nền móng đầu tiên cho phong trào cách mạng ở nhiều địa bàn.

Đắk Lắk20/09/2026Ban Thanh niên Công an tỉnh (Ban Thanh niên Công an tỉnh Đắk Lắk)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Khi được tuyên dương Anh hùng, Phan Trọng Dường là Trung đội phó bộ binh thuộc bộ đội tình nguyện, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhưng điều làm nên dấu ấn đặc biệt của ông lại nằm ở những tháng ngày hoạt động giữa vùng địch tạm chiếm – nơi mỗi bước chân đều có thể đối diện với sự truy lùng, càn quét.

Để có thể đến gần nhân dân, ông kiên trì học thêm ba thứ tiếng, tìm hiểu phong tục, tập quán và cách sinh hoạt của đồng bào. Trong quá trình hoạt động, ông đã tuyên truyền, xây dựng cơ sở cách mạng tại 77 thôn trong vùng địch tạm chiếm, góp phần củng cố mối quan hệ giữa lực lượng cách mạng với nhân dân nước bạn. Đó là một công việc không thể hoàn thành trong ngày một ngày hai, mà đòi hỏi sự kiên nhẫn và khả năng chịu đựng gian khổ đặc biệt.

Từ tháng 9-1950 đến tháng 1-1951, Phan Trọng Dường cùng một tổ chỉ có 3 người hoạt động tại một vùng chưa có cơ sở cách mạng. Địch liên tục càn quét, tổ công tác phải bí mật trong rừng, đối mặt với mưa rét, thiếu thốn và muỗi độc. Có những thời điểm kéo dài hàng tháng, ông thức khuya dậy sớm, đi từ nơi này sang nơi khác để vận động quần chúng. Sau 7 tháng, chính từ vùng đất gần như chưa có cơ sở ấy, ông cùng đồng đội đã xây dựng được chính quyền cách mạng ở 7 thôn, tổ chức 70 dân quân phối hợp với lực lượng vũ trang đánh địch.

Những con số ấy cho thấy một điều: công việc của người chiến sĩ lúc bấy giờ không chỉ là cầm súng. Có khi, một thắng lợi bắt đầu từ việc kiên trì đi vào từng bản làng, gặp từng người dân, giải thích, thuyết phục và tạo dựng niềm tin.

Đầu năm 1951, ông chuyển sang một địa bàn khác, núi non hiểm trở, điều kiện sinh hoạt đặc biệt khó khăn. Trong lúc một số cán bộ nảy sinh tư tưởng dao động trước gian khổ, Phan Trọng Dường vẫn kiên trì động viên anh em, cùng nhau vượt qua khó khăn. Kết quả, cơ sở cách mạng được xây dựng ở 30 thôn, về sau trở thành một căn cứ quan trọng của lực lượng cách mạng.

Có một thời điểm, bản thân ông bị bệnh, hai chân phù thũng, sưng to, nhưng vẫn chống gậy đi trong mưa để vận động quần chúng. Khi cơ sở đã được củng cố, ông cùng đồng đội vận động nhân dân tham gia đánh địch, tổ chức phá 10 cầu gỗ trên đường 23, gây khó khăn cho hoạt động của đối phương.

Nhưng có lẽ câu chuyện đặc biệt nhất về Phan Trọng Dường là những tháng ngày ông hoạt động trong vùng đồng bào Gia Rai từ tháng 7-1952.

Khi ấy, do bị địch tuyên truyền, lừa bịp, một bộ phận đồng bào còn sợ cán bộ cách mạng. Có đêm, Phan Trọng Dường đi vận động quần chúng và bị đuổi khỏi bản đến ba lần. Người chiến sĩ ấy không bỏ cuộc. Ông tiếp tục tìm cách đến gần đồng bào, hòa mình vào cuộc sống của họ, giúp đỡ người già, thăm hỏi người ốm, kiên trì xây dựng tình cảm và lòng tin.

Địch còn treo giải thưởng cho ai bắt được cán bộ người Kinh. Để có thể tiếp tục hoạt động mà không bị phát hiện, Phan Trọng Dường đã hóa trang thành người địa phương: để tóc dài, đóng khố, phơi nắng cho da sẫm màu, xâu tai đeo vòng, cưa răng sát lợi và học nói tiếng địa phương.

Sự thay đổi ấy không chỉ là một cách che mắt đối phương. Đằng sau nó là cả một quá trình chủ động hòa mình vào đời sống cộng đồng để hiểu dân và để dân hiểu, tin người cán bộ cách mạng. Từ chỗ tránh né, đồng bào dần trở thành những người bảo vệ, che chở cho cán bộ. 10 thôn cơ sở trong vùng được xây dựng và củng cố vững chắc.

Đến tháng 4-1954, Phan Trọng Dường tiếp tục phụ trách một đội công tác, vượt qua nhiều khó khăn để xây dựng chính quyền cách mạng và lực lượng dân quân bảo vệ tại 30 thôn.

Nhìn lại chặng đường bốn năm, những con số về 77 thôn, 30 thôn, 10 thôn, 70 dân quân, 10 cầu gỗ không chỉ là những dấu mốc trong hồ sơ thành tích. Đằng sau mỗi con số là những ngày bám rừng, bám bản, những lần vượt qua truy quét, những cuộc vận động nhân dân và cả những lúc chính người cán bộ phải vượt qua bệnh tật, đói rét để không rời nhiệm vụ.

Ở Phan Trọng Dường, sự quả cảm không chỉ thể hiện trong đối đầu với kẻ thù mà còn ở khả năng chịu đựng gian khổ, kiên trì với công việc tưởng như âm thầm và khó khăn hơn cả một trận đánh: xây dựng lòng tin của nhân dân.

Trong suốt quá trình hoạt động, ông luôn được đồng đội ghi nhận bởi tinh thần gương mẫu, thương yêu, đoàn kết, sẵn sàng nhận phần khó khăn về mình và nhường thuận lợi cho người khác. Ông được bộ đội nước bạn khen thưởng hai lần, được công nhận là Chiến sĩ thi đua của bộ đội tình nguyện Việt Nam tại nước bạn.

Ngày 7-5-1956, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quyết định tặng Phan Trọng Dường Huân chương Quân công hạng Ba và danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Từ một người con của Xuân Long, Phú Yên, Phan Trọng Dường đã để lại dấu ấn trên những vùng đất mà ông từng đặt chân đến trong những năm tháng kháng chiến. Câu chuyện về ông cho thấy chiến công đôi khi không bắt đầu từ tiếng súng, mà bắt đầu từ một bước chân đi vào bản làng, một cuộc trò chuyện với người dân, một lần vượt qua gian khổ và trên hết là sự kiên trì giữ vững niềm tin vào con đường mình đã lựa chọn.

Đó cũng là nét đẹp của người chiến sĩ cách mạng một thời: đến với nhân dân, sống cùng nhân dân và từ lòng tin của nhân dân tạo nên sức mạnh cho cách mạng.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn