Phát động phong trào "vườn không, nhà trống", áp dụng chiến thuật du kích để đánh giặc
Phát động phong trào "vườn không, nhà trống", áp dụng chiến thuật du kích để đánh giặc
Phát động phong trào "vườn không, nhà trống", áp dụng chiến thuật du kích để đánh giặc
Chấp hành Chỉ thị kháng chiến của Thường vụ Trung ương Đảng ngày 25/11/1945 và Quyết định của cuộc Hội nghị quân sự họp ở ven sông Vàm Cỏ Đông, Đức Hòa, Long An (nay thuộc tỉnh Tây Ninh) ngày 10/12/1945, sau khi tiếng súng của cuộc kháng chiến chống Pháp toàn chiến trường Nam Bộ bùng nổ, các địa phương trong vùng Đồng Tháp Mười đã nhanh chóng tổ chức thực hiện những việc sau đây:
- Triệt để phát động phong trào "vườn không, nhà trống" và ra sức áp dụng chiến thuật du kích để đánh giặc. Tại Hồng Ngự, xã nào cũng xây dựng được một tiểu đội du kích tập trung. Ở Mộc Hóa, các đơn vị vũ trang đã nhanh chóng được xây dựng, có nơi thành lập cả đội "Cảm tử quân". Hệ thống trinh sát và việc thông tin, báo tin được tổ chức tốt. Chỉ ở một đoạn trên sông Vàm Cỏ, dân quân đã tổ chức tới 17 trạm gác, hễ thấy tàu địch xuất hiện là lập tức đánh mõ báo động cho cơ quan và Nhân dân kịp thời sơ tán, cho bộ đội và du kích sẵn sàng chiến đấu.
- Triệt phá bộ máy chính quyền tay sai của địch ở cơ sở. Nhiều nơi, các đội du kích tập trung của huyện đã truy lùng bắt những tên ác ôn, đọc bản án xét xử tại chỗ để răn đe. Phong trào trừ gian diệt tề, trừng trị bọn gián điệp được phát triển mạnh. Tại Mộc Hóa, tất cả 48 tên tề xã trong quận đã viết tờ cam kết trước cơ quan chính quyền Cách mạng không tiếp tục làm tay sai cho địch.
Sự kết hợp tác chiến của các đơn vị vũ trang và lực lượng bán vũ trang ngày càng được tổ chức thực hiện tốt. Đến đầu năm 1947, ở tỉnh Tân An, cơ quan huyện đội đã được chính thức thành lập. Các đội du kích tập trung của huyện được quan tâm tăng cường và củng cố để phục vụ cho tác chiến. Tại tỉnh Mỹ Tho, các lực lượng vũ trang vừa tiến công bứt rút đồn bót nằm trong nội địa Đồng Tháp Mười, vừa bung ra vùng ven dọc theo các trục lộ giao thông để tấn công tiêu diệt địch. Do kết quả việc phối hợp của các du kích huyện, xã và ấp để tiến hành canh gác và bao vây đồn địch, nên đã hạn chế được sự ruồng bố của chúng. Hoạt động mạnh của lực lượng du kích còn tạo ra địa bàn dừng chân thuận lợi của các đơn vị chủ lực.
Trong 15 tháng chiến đấu, từ ngày 23/9/1945 đến ngày Toàn quốc kháng chiến 19/12/1946, quân dân chiến khu Đồng Tháp Mười đã cùng Nhân dân Nam Bộ tiêu diệt được 1.330 tên giặc, bắn rơi 2 máy bay, diệt 40 xe, 6 đồn, đốt phá Đài phát thanh Sài Gòn, thiêu hủy 4.000 tấn đạn, 1.500 tấn cao su.
Tháng 10/1948, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã gửi thư cho Xứ ủy Nam Bộ, viết: "Cuộc kháng chiến Nam Bộ thật có tính chất Nhân dân, trong kháng chiến tự dân đứng dậy xông lên để tự vệ bằng mọi cách với mọi sáng kiến, mọi khả năng... Cuộc kháng chiến Nam Bộ mạnh chính là ở tự động, không ỷ lại, tự lực cánh sinh".
Trong năm 1949, trước khi Xứ ủy Nam Bộ di chuyển bản doanh xuống chiến khu U Minh ở miền Tây, trên chiến trường Đồng Tháp Mười còn diễn ra hai trận đánh lớn.Đó là trận đánh diễn ra ngày 21/4/1949, trên sông Sở Thượng (thuộc huyện Hồng Ngự), ta dùng thủy lôi đánh chìm tàu vớt mìn D27, đánh bị thương nặng tàu V72, diệt nhiều lính Âu Phi, bắt sống 23 lính người Marốc, thu 1 súng cối 82 ly, hai pháo 20 ly, 3 đại liên 13,7 ly và 90 súng các loại. Ngày 20/5/1949, hai đại đội 1028 - 1030 của Trung đoàn 115 phối hợp với du kích xã Phong Mỹ đánh thủy lôi ở Vàm Cái Lách (huyện Thanh Bình), nhận chìm tàu vớt mìn D28, đánh tan rã 1 tiểu đoàn Âu Phi, bắt sống 30 tên, thu 1 đại bác và 200 súng các loại. Hai trận này góp phần tạo hành lang thuận lợi từ Khu 8 qua sông Tiền liên lạc xuống miền Tây.
Tháng 6/1949, địch mở cuộc càn lớn vào Đồng Tháp Mười với 4.000 quân, đa số là Âu Phi, có xe lội nước, tàu chiến, máy bay và lính dù yểm trợ do đại tá Paul Connier chỉ huy, kéo dài từ ngày 02 đến 08/6. Tiểu đoàn 404 bảo vệ căn cứ địa của Nam Bộ, Tiểu đoàn chủ lực 307 của Khu 8, Tiểu đoàn 309 của Mỹ Tho phối hợp chặt chẽ với dân quân, du kích các xã căn cứ đã đánh trả quyết liệt những trận tiến công của địch. Trong trận chống càn này, quân ta tiêu diệt 400 tên địch, 6 xe lội nước nhưng cũng bị tổn thất. Kỹ sư Nguyễn Ngọc Nhựt, Ủy viên xã hội của Ủy ban Kháng chiến - Hành chính Nam Bộ bị địch bắt tại Cái Bèo. Đồng chí Đỗ Huy Rứa - Tiểu đoàn trưởng 307, đồng chí Hoàng Thái Khuyên - Chính trị viên Tiểu đoàn 309 và 70 đồng chí đã hy sinh. Hơn 200 đồng bào bị giết, 700 nhà bị giặc đốt.


