Khác

Phật Hoàng Trần Nhân Tông: Một đời giữ nước, một đời tu hành

Tác giả: Vũ Nguyễn Hồng Ngọc

TP. Hồ Chí Minh22/08/2026Trường Đại học Hải Dương (Trường Đại học Hải Dương)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
Phật Hoàng Trần Nhân Tông: Một đời giữ nước, một đời tu hành

Vượt lên trên đỉnh cao quyền lực của một vị hoàng đế quật cường, Đức vua Trần Nhân Tông đã đi vào lịch sử dân tộc như một biểu tượng bất tử của tinh thần xả thân vì sông núi và trí tuệ giác ngộ nâng đỡ tâm hồn Việt.

Xuất thân và thời niên thiếu

Đức vua Trần Nhân Tông tên húy là Trần Khâm, sinh ngày 11 tháng 11 năm Mậu Ngọ (1258), là con trưởng của Vua Trần Thánh Tông và Hoàng Thái hậu Nguyên Thánh Thiên Cảm. Ngay từ khi chào đời, Ngài đã có dung mạo của bậc thánh nhân, thể chất hoàn hảo, thần khí tươi sáng như vàng ròng nên được vua cha đặt hiệu là Phật Kim. Lớn lên, năm 16 tuổi (1274), Ngài được lập làm Hoàng Thái tử và kết duyên cùng Công chúa Quyên Thanh, trưởng nữ của Hưng Đạo Đại Vương.

Được sự dạy dỗ tận tình từ các bậc trưởng lão tinh thông Nho - Phật - Đạo cùng cuốn "Di Hậu Lục" do vua cha soạn thảo, Thái tử nhanh chóng thấu đạt đạo lý trị quốc và am tường Tam giáo. Về thiền học, Ngài theo học Tuệ Trung Thượng sĩ, ngộ ra chân lý đạo màu từ lời dạy "Phản quan tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc". Ngài luôn tôn Tuệ Trung Thượng sĩ làm thầy, thường xuyên tới chùa Tư Phúc tụng kinh, tọa thiền, từ đó hình thành nên tư tưởng tu hành sâu sắc và thấu hiểu cả nội điển lẫn ngoại điển.

Bậc minh quân và hai lần đại thắng Nguyên – Mông

Tháng 10 năm Mậu Dần (1278), ở tuổi 20, Ngài lên ngôi Hoàng đế, lấy hiệu Hiếu Hoàng rồi đổi niên hiệu thành Thiệu Bảo vào năm 1279. Kế tục sự nghiệp các tiên đế, Ngài thi hành chính sách khoan hòa, lấy đức trị vì Đại Việt, chăm lo đời sống nhân dân. Khi giặc Nguyên - Mông tràn sang xâm lược, Ngài chủ trì Hội nghị Bình Than năm 1282 để quy tụ sức mạnh đoàn kết toàn dân, rồi trực tiếp lãnh đạo quân dân hai lần đánh tan quân xâm lược vào các năm 1285 và 1288.

Cùng Hào khí Đông A quật cường, Ngài đã để lại hai câu thơ bất hủ cổ vũ quân dân: "Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã / Sơn hà thiên cổ điện kim âu". Sau khi đánh đuổi giặc ngoại xâm, Ngài củng cố triều đình, thực thi chính sách hòa giải xóa bỏ mọi lỗi lầm trước đó của quần thần nhằm củng cố khối đại đoàn kết dân tộc. Đồng thời, Ngài áp dụng phương sách ngoại giao vừa mềm dẻo vừa cứng rắn với các nước lân bang để phục hưng đất nước và giữ vững hòa bình.

Rời ngai vàng và hành trình dựng lập Trúc Lâm

Năm 1293, Ngài nhường ngôi cho con là Trần Anh Tông để lên làm Thái Thượng Hoàng, rồi tiếp tục lãnh đạo quân sĩ chinh phạt Ai Lao giữ yên bờ cõi vào năm 1294. Sau khi xã tắc bình yên, Ngài trở về hành cung Vũ Lâm xin xuất gia với Quốc sư Huệ Tuệ. Đến năm 1299, Ngài tiến thẳng lên núi Yên Tử tu hạnh đầu đà với hiệu Hương Vân Đại Đầu Đà, thống nhất ba dòng thiền Tỳ-Ni-Đa-Lưu-Chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Đường để sáng lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử đậm bản sắc Đại Việt.

Năm 1301, Ngài sang giao hảo với Champa, lập am Tri Kiến, thỉnh giảng thiền tông và kiến tạo quan hệ hòa bình hữu nghị. Nhờ chuyến hóa độ lịch sử này, Vua Chế Mân đã dâng hai châu Ô, châu Lý làm sính lễ cưới Công chúa Huyền Trân năm 1306, giúp bản đồ Đại Việt được mở rộng. Thiền phái Trúc Lâm từ đó cũng được hoằng hóa mạnh mẽ với nhiều ngôi chùa vừa là chốn sinh hoạt tâm linh, vừa là cột mốc văn hóa khẳng định chủ quyền dân tộc trên vùng đất mới.

Truyền thừa y bát và bài kệ bất diệt

Năm 1304, Ngài chống gậy trúc dạo khắp xóm làng khuyên dân giữ gìn năm giới, tu thập thiện, dẹp bỏ mê tín dị đoan và truyền giới Bồ tát cho vương công quần thần. Đến năm 1307, tại am Ngọa Vân, Ngài trao truyền y bát cùng tâm kệ cho Tôn giả Pháp Loa. Đầu năm 1308, Ngài chính thức phong Pháp Loa làm Đệ nhị Tổ Trúc Lâm, còn Ngài trở thành Sơ Tổ Thiền phái. Ngày mùng 1 tháng 11 năm 1308, Ngài an nhiên nhập diệt tại đỉnh Ngọa Vân ở tuổi 51, để lại hàng ngàn hạt xá lị tôn trí ở nhiều trung tâm lớn.

Trong sự nghiệp hoằng pháp, Ngài chủ trì in Đại Tạng kinh và để lại kho tàng pháp bảo vô giá như "Trần Nhân Tông thi tập", "Thạch Thất Mỵ Ngữ", cùng bài kệ Pháp thân thường trụ trước lúc diệt độ: "Nhất thiết pháp bất sinh / Nhất thiết pháp bất diệt / Nhược năng như thị giải / Chư Phật thường tại tiền / Hà khứ lai chi hữu". Đức vua Phật hoàng Trần Nhân Tông mãi mãi là vị hoàng đế anh minh, nhà tư tưởng lớn và là biểu tượng giác ngộ bất tử trong lòng muôn đời người Việt.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn