Phong trào cách mạng 1925-1930
Phong trào cách mạng 1925-1930
Năm 1925, Nguyễn Ái Quốc cùng với 9 cựu thành viên ưu tú của Tâm Tâm xã thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Nguyễn Ái Quốc là người lãnh đạo Hội. Các hội viên chủ chốt gồm có: Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn, Lê Hồng Phong, Vương Thúc Oánh, Trương Vân Lĩnh, Lưu Quốc Long, Lâm Đức Thụ... Trụ sở của Hội đặt tại Quảng Châu, Trung Quốc.
Cũng trong năm 1925, một số tù chính trị cũ ở Trung Kỳ như Lê Văn Huân, Nguyễn Đình Kiên,... một số giáo viên như Trần Mộng Bạch, Trần Phú, Hà Huy Tập,... và một số nhóm sinh viên Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nội như Tôn Quang Phiệt, Đặng Thai Mai... đã lập ra Hội Phục Việt, sau đổi tên thành Hội Hưng Nam. Đến năm 1926, Hưng Nam đổi thành Việt Nam Cách mạng Đảng. Đến tháng 7 năm 1927, lại đổi thành Việt Nam Cách mạng Đồng chí Hội. Hội đã nhiều lần họp bàn với Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên nhưng thất bại. Ngày 14 tháng 7 năm 1928, Hội họp đại hội tại Huế quyết định lấy tên là Tân Việt Cách mạng Đảng (Tân Việt).
Đảng Tân Việt hoạt động trong điều kiện Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên phát triển mạnh nên các thành viên chịu ảnh hưởng từ tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc, tác phẩm Đường Kách Mệnh của ông được coi là "kim chỉ nam" của các thành viên Đảng Tân Việt. Một số đảng viên trẻ gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, một số đảng viên còn lại thì ở lại tích cực chuẩn bị thành lập 1 chính đảng theo chủ nghĩa Marx-Lenin và tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc, còn một số khác thì chủ trương thành lập Liên đoàn Quốc gia.
Cuối năm 1924, Nguyễn An Ninh đã bắt đầu tiến hành xây dựng những cơ sở chính trị dưới hình thức hội kín. Năm 1925, tổ chức Thanh niên Cao vọng chính thức được thành lập. Thanh niên Cao vọng chủ trương tuyên truyền, phổ biến những nội dung, tư tưởng, học thuyết cách mạng để khơi dậy lòng yêu nước, khát vọng giải phóng dân tộc. Năm 1926, tổ chức đã tập hợp được hơn 7.000 thành viên. Năm 1929, Nguyễn An Ninh bị bắt, Thanh niên Cao vọng tan rã và phần lớn gia nhập tổ chức Cộng sản.[8]
Tháng 6 năm 1925, trên đường đến Quảng Châu để tổ chức giỗ đầu cho Phạm Hồng Thái, Phan Bội Châu bị mật thám Pháp bắt giữ. Tháng 11, ông bị đưa về Việt Nam và tiến hành xét xử công khai. Trong phiên tòa, Nguyễn Khắc Doanh đã làm náo loạn khi đòi được chết thay, mở đầu cho phong trào đòi ân xá cho Phan Bội Châu. Phong trào diễn ra công khai, bắt đầu từ Hà Nội và lan ra nhiều tỉnh thành khác, tích cực nhất là tờ Thực nghiệp dân báo của Nguyễn Hữu Thu và tổ chức Hội Phục Việt. Cuối cùng, Toàn quyền Alexandre Varenne phải chấp nhận tha bổng cho Phan Bội Châu nhưng vẫn giam lỏng ông đến cuối đời.[9]
Ngày 21 tháng 3 năm 1926, một số người yêu nước có tư tưởng dân chủ như Nguyễn Trọng Hy, Bùi Công Trừng, Trần Huy Liệu,... đã thành lập Đảng Thanh niên.[10] Ngày 24 tháng 3 năm 1926, Phan Châu Trinh qua đời. Lễ tang và truy điệu của ông đã mở đầu cho nhiều cuộc đấu tranh công khai của nhiều tầng lớp trong cả nước.[11] Đảng Tân Việt và Đảng Thanh niên đã tích cực tham gia phong trào. Tháng 4, Đảng Thanh niên ngừng hoạt động, nhiều thành viên chuyển hướng theo con đường cộng sản.
Năm 1927, Nguyễn Thái Học, Nhượng Tống, Phó Đức Chính, Phạm Tuấn Tài, Phạm Tuấn Lâm, Hồ Văn Mịch, Nguyễn Ngọc Sơn, Lê Văn Phúc... bí mật thành lập Việt Nam Quốc dân Đảng. Năm 1929, đảng này thực hiện vụ ám sát Bazin, làm 1 thông điệp chính trị gửi đến toàn quyền Đông Dương, cảnh cáo chính sách bất công thuộc địa. Chủ trương hoạt động của Quốc dân đảng đề ra có 2 phần: "Giai đoạn phá hoại" và "Giai đoạn kiến thiết". Vụ ám sát Bazin thuộc giai đoạn đầu. Năm 1929, sau những tổn thất nặng nề do chính quyền thực dân gây ra, một số lãnh tụ của Việt Nam Quốc Dân Đảng chủ trương phản công bằng một cuộc khởi nghĩa vũ trang, chứ không thể ngồi khoanh tay chờ bị tiêu diệt.
Năm 1930, Việt Nam Quốc dân đảng quyết định tiến hành khởi nghĩa. Khởi nghĩa bắt đầu ngày 9 tháng 2, nơi nổ súng đầu tiên là Yên Bái. Tại Yên Bái, Phú Thọ, quân đội Việt Nam Quốc dân đảng tạm chiếm một số nơi nhưng không giữ được. Tại Hà Nội chỉ kịp gây ra một số vụ nổ bom ở Sở sen đầm, Sở mật thám. Tại Kiến An, Hải Dương, mãi đến ngày 15 tháng 2 mới nổi dậy, chiếm được Vĩnh Bảo (Hải Dương) và Phụ Dực (Thái Bình), nhưng không đánh chiếm được Phả Lại, Hải Dương. Khởi nghĩa Yên Bái thất bại và tan rã. Đây là phong trào cuối cùng của ý thức hệ tư sản trong phong trào cách mạng chống Pháp ở Việt Nam. Từ đây, ngọn cờ cách mạng chống Pháp và vai trò lãnh đạo được giao vào tay giai cấp công nhân và các phong trào vô sản.



