Bài viết

Phong trào cách mạng 1939-1945

Tây Ninh28/04/2026Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Phong trào cách mạng 1939-1945

Chủ trương bạo độngBài chi tiết: Mặt trận Thống nhất Dân tộc Phản đế Đông Dương

Ngày 29 và 30 tháng 8 năm 1938, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương tổ chức Hội nghị tại Bà Điểm (thuộc 18 thôn vườn trầu, Hóc Môn, Gia Định) do Tổng bí thư Hà Huy Tập chủ trì, có sự tham gia của Lê Hồng Phong, Võ Văn Tần, Nguyễn Văn Cừ, Nguyễn Chí Diểu,... Hội nghị đã tổng kết lại phong trào cách mạng, đặc biệt là lớn mạnh của Đảng Cộng sản Đông Dương qua phong trào đấu tranh dân chủ. Trước tình hình mới, Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận Thống nhất Dân chủ Đông Dương thay cho Mặt trận Nhân dân Phản đế, tăng cường hoạt động đấu tranh quần chúng. Mặt khác Hội nghị ra một nghị quyết riêng về phòng thủ Đông Dương và vận động binh lính, bầu Nguyễn Văn Cừ làm Tổng bí thư.[18]

Ngày 6 tháng 11 năm 1939, sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra (1 tháng 9, 1939), Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương tổ chức Hội nghị Trung ương do Tổng bí thư Nguyễn Văn Cừ chủ trì ở Bà Điểm, có sự góp mặt của Võ Văn Tần, Phan Đăng Lưu, Lê Duẩn,... Hội nghị phân tích mâu thuẫn chủ yếu, gay gắt nhất ở Đông Dương lúc này là mâu thuẫn giữa đế quốc và các dân tộc Đông Dương, xác định mục tiêu chiến lược trước mắt của cách mạng là đánh đổ đế quốc và tay sai, giải phóng các dân tộc Đông Dương, làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập, gác lại khẩu hiệu cách mạng ruộng đất. Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận Thống nhất Dân tộc Phản đế Đông Dương thay thế Mặt trận Thống nhất Dân chủ, tập trung vào kẻ thù chính là đế quốc và tay sai, chuyển đấu tranh dân chủ sang bạo động cách mạng, đề ra khẩu hiệu thành lập chính quyền Dân chủ Cộng hòa thay cho chính quyền Xô viết, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu.[19]

Những tiếng súng đầu tiênBài chi tiết: Khởi nghĩa Bắc Sơn, Khởi nghĩa Nam Kỳ, và Binh biến Đô Lương

Ngày 27 tháng 9 năm 1940, người dân Bắc Sơn do Đảng bộ Đảng Cộng sản Đông Dương địa phương lãnh đạo đã chớp cơ hội đế quốc Nhật tấn công vào Lạng Sơn, đế quốc Pháp trốn chạy về Thái Nguyên qua Bắc Sơn, Đảng bộ Bắc Sơn huy động dân chúng vũ trang cướp chính quyền, tấn công chiếm được đồn Mỏ Nhài, tiếp tục tấn công tàn quân Pháp ở đèo Canh Tiêm, Sập Dì. Xứ ủy Bắc Kỳ Đảng Cộng sản Đông Dương cử Trần Đăng Ninh lãnh đạo phong trào và xây dựng lực lượng để chiến đấu lâu dài. Pháp sau đó tập trung quân chiếm lại các đồn và đàn áp phong trào. Khởi nghĩa Bắc Sơn tan rã nhưng phong trào du kích vẫn tiếp tục.[20]

Năm 1940, Xứ ủy Nam Kỳ Đảng Cộng sản Đông Dương chủ trương và lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ trong hoàn cảnh nước Pháp bị bại trận trong Chiến tranh thế giới thứ hai, đế quốc Nhật Bản xâm chiếm Đông Dương, chiến tranh Pháp-Xiêm có nguy cơ bùng nổ, phong trào phản kháng của binh sĩ người Việt trong quân đội Pháp ở miền Nam Việt Nam có dấu hiệu phát triển. Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương họp tháng 11 nhận định điều kiện cách mạng chưa chín muồi, đã quyết nghị đình hoãn cuộc khởi nghĩa. Nhưng quyết định đó chưa kịp phổ biến thì lệnh khởi nghĩa đã được ban bố. Ngày 23 tháng 11, khởi nghĩa đã diễn ra ở Mỹ Tho, Gia Định, Chợ Lớn, Tân An, Sóc Trăng, Cần Thơ, Vĩnh Long, Long Xuyên, Bạc Liêu... Chính quyền cách mạng được thành lập ở một số nơi và đã bắt đầu ngay một số cải cách dân chủ. Riêng ở Sài Gòn, kế hoạch bị lộ, Pháp kịp đề phòng, và khởi nghĩa không thực hiện được. Pháp thẳng tay đàn áp phong trào khởi nghĩa. Hàng nghìn người bị giết và bị bắt, nhiều làng mạc bị triệt phá, nhiều cán bộ Đảng Cộng sản Đông Dương (Nguyễn Văn Cừ, Hà Huy Tập, Phan Đăng Lưu, Võ Văn Tần, Nguyễn Thị Minh Khai...) bị xử tử. Lực lượng khởi nghĩa một số rút được về U Minh, Đồng Tháp... Khởi nghĩa Nam Kỳ đã nêu cao ý chí đấu tranh của người dân Việt Nam và báo hiệu 1 cuộc khởi nghĩa toàn quốc, bước đầu đấu tranh vũ trang của các dân tộc ở Đông Dương.[20]

Ngày 13 tháng 1 năm 1941, dưới sự chỉ huy của Đội Cung (Nguyễn Văn Cung), binh lính người Việt trong quân đội Pháp đang đóng ở đồn Chợ Rạng (Thanh Chương, Nghệ An) đã nổi dậy. Tối hôm đó, họ đánh chiếm đồn Đô Lương rồi lên xe kéo về Vinh, định cùng binh lính người Việt ở đây tấn công Pháp để chiếm thành. Kế hoạch không thành, Đội Cung bị bắt và bị xử tử cùng với 10 đồng đội của ông tại Vinh ngày 24 tháng 4. Nhiều người khác bị kết án khổ sai và đưa đi đày.[21]

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn