PHÙNG CHÍ KIÊN
PHÙNG CHÍ KIÊN
Lại một mùa xuân nữa trở về trên quê hương độc lập, khi những mầm xanh bình yên vươn lên từ nền đất từng thấm máu cha anh. Lịch sử dân tộc chưa bao giờ được viết bằng những ngày tháng lặng lẽ, mà bằng ý chí sắt đá và sự hy sinh của những con người dám sống trọn cho một lý tưởng lớn hơn chính mình. Trong lớp lớp những chiến sĩ cộng sản tiền phong ấy, có một người đã chọn con đường không lùi bước, để tên tuổi mình hòa vào khí phách của non sông. Đó là đồng chí Phùng Chí Kiên – Vị tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam.
Ngày 18/5 của 125 năm về trước, từ ngôi làng nhỏ tên là Mỹ Quan, thuộc tổng Vạn Phần (nay là xã Hùng Châu, tỉnh Nghệ An) có một cậu bé ra đời trong gia đình nông dân chân chất, được đặt tên là Nguyễn Vỹ. Tuy sinh ra và lớn lên trong mái tranh nghèo đơn sơ, nhưng Nguyễn Vỹ lại là hậu duệ của bậc anh hùng – khai quốc công thần Nguyễn Xí. Cương Quốc Công Nguyễn Xí sinh năm 1397 tại làng Thượng Xá, huyện Chân Phúc, trấn Nghệ An, nay là xã Nghi Hợp, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Cụ tham gia khởi nghĩa Lam Sơn chống lại sự xâm lược của giặc Minh. Sau khi khởi nghĩa thắng lợi, cụ làm quan cho nhà Hậu Lê trải 4 triều vua, là công thần được sắc ban “Thượng đẳng phúc thần, Hiển uy chính nghị anh kiệt trung trinh Đại vương”.
Được sinh trưởng với dòng máu ấy, với tinh thần ấy, cậu bé Nguyễn Vỹ được mẹ cha cho đi học sớm dù gia cảnh nghèo khó. Học hết bậc sơ học, do hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, Nguyễn Vỹ phải nghỉ học ở nhà làm ruộng. Vốn là người thông minh, có ý chí, ham học hỏi nhưng lớn lên trong cảnh đất nước bị thực dân Pháp đô hộ, tận mắt chứng kiến bao nỗi đau của quê hương, đất nước, Nguyễn Vỹ đã sớm mang trong mình những khát khao, hoài bão cứu nhà, cứu nước, cứu dân.
Ngọn đuốc ấy đã được thắp lên vào những năm 1926 – 1927, đúng vào thời kỳ thanh xuân nhiệt huyết nhất của Nguyễn Vỹ: Cách mạng!
Năm 1925, khi làm thuê cho một thương nhân người Hoa tại ga Yên Lý (Diễn Châu) trên tuyến đường sắt Hà Nội – Sài Gòn, Nguyễn Vỹ đã gặp những hội viên của Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội từ Quảng Châu trở về hoạt động. Cuộc gặp gỡ ấy như một tia lửa bén vào tâm hồn người thanh niên đang trăn trở giữa thời cuộc. Xã hội Việt Nam giữa thập niên 1920 đang âm ỉ chuyển mình: Quần chúng sẵn sàng đứng lên nhưng chưa tìm ra con đường, trí thức khắc khoải kiếm tìm một ánh sáng dẫn lối. Và khi ánh sáng ấy xuất hiện, Nguyễn Vỹ đã đón nhận bằng tất cả nhiệt huyết của tuổi trẻ.
Tháng 10 năm 1926, ông được giới thiệu sang Quảng Châu dự lớp huấn luyện đầu tiên do Nguyễn Ái Quốc tổ chức, rồi theo học Trường Quân sự Hoàng Phố. Từ đây, ông mang tên mới Phùng Chí Kiên – cái tên gửi gắm ý nghĩa “là sự tương phùng hội ngộ, là sự gặp gỡ của chí khí và lòng kiên trung”. Trong những lớp học bí mật nơi khu phố cổ Quảng Châu, cùng các thanh niên ưu tú như Trần Phú, Lê Hồng Phong, Phạm Văn Đồng…, ông được trực tiếp hun đúc lý tưởng cách mạng. Những lần theo chân Nguyễn Ái Quốc đến viếng mộ Phạm Hồng Thái ở Hoàng Hoa Cương không chỉ là một nghi thức tưởng niệm, mà còn là lời thề thiêng liêng dấn thân. Chính trong môi trường ấy, giữa lý luận và thực tiễn, giữa học tập và thử thách, tư cách “Người cách mạng” của Phùng Chí Kiên được tôi luyện như thế, bằng chính ngọn đuốc thế kỷ mà Nguyễn Ái Quốc đã thắp lên!
Sau khóa học, Phùng Chí Kiên được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc cử vào học Trường Võ bị Hoàng Phố của Tôn Trung Sơn. Năm 1927, Tưởng Giới Thạch khủng bố cộng sản, nhà trường bị đóng cửa. Phùng Chí Kiên cùng với một số cán bộ Việt Nam gia nhập Quân Cộng sản và tham gia Khởi nghĩa Quảng Châu (ngày 12 tháng 12 năm 1927) do Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo, làm Đại đội trưởng Hồng quân Công nông Trung Quốc. Cuộc bạo động thất bại, nhưng với cương vị Đại đội trưởng, Phùng Chí Kiên đã tỏ rõ bản lĩnh của người chỉ huy quân sự tinh tế, nhạy bén, ứng phó linh hoạt khi xử trí các tình huống chiến đấu. Sau đó, quân cách mạng rút về xây dựng khu Xô Viết ở hai huyện Hải Phong và Lục Phong.
Ngày 3/2/1930, Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời tại Hương Cảng – Trung Quốc. Phùng Chí Kiên là một trong những Đảng viên sớm nhất gia nhập.
Tháng 2 năm 1931, với tư cách là Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam (đã được đổi tên thành Đảng Cộng sản Đông Dương để phù hợp với thực tiễn đấu tranh cách mạng lúc bấy giờ), theo sự giới thiệu của Nguyễn Ái Quốc, Phùng Chí Kiên sang học tại Trường Đại học Phương Đông của Quốc tế Cộng sản. Trên đường đi, ông bị phát xít Nhật bắt giam gần một năm tại Mãn Châu. Sau khi được trả tự do, ông đổi tên là Can và tiếp tục sang Liên Xô học tập. Từ năm 1933 đến năm 1934, ông theo học tại Trường Đại học Lao động Cộng sản Phương Đông ở Moskva, miệt mài nghiên cứu chủ nghĩa Mác – Lênin và kinh nghiệm đấu tranh của nhân dân Xô viết để chuẩn bị cho con đường cách mạng Việt Nam.
Năm 1934, ông trở về Hương Cảng, tham gia Ban lãnh đạo hải ngoại của Đảng cùng Lê Hồng Phong và Hà Huy Tập, chuẩn bị triệu tập Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ nhất của Đảng tại Áo Môn năm 1935. Tại Đại hội này, ông được bầu vào Thường vụ Ban Chấp hành Trung ương, phụ trách công tác Đảng ở nước ngoài. Năm 1936, ông về Sài Gòn hoạt động, trực tiếp chỉ đạo phong trào cách mạng theo Nghị quyết Hội nghị Trung ương ngày 16/7/1936 nhằm đấu tranh đòi tự do, dân chủ, cơm áo và hòa bình. Năm 1937, ông sang Hương Cảng với tên Phùng Nguôn Vĩnh nhưng bị cảnh sát Anh bắt và trục xuất. Năm 1938, ông tiếp tục tham gia Ban lãnh đạo hải ngoại và xuất bản báo Đồng Thanh tại Côn Minh (Trung Quốc).
Đầu năm 1940, khi Nguyễn Ái Quốc đến Côn Minh, Phùng Chí Kiên được trực tiếp làm việc và theo sát Người trong nhiều chuyến đi đến Mông Tự, Nghi Lương, Khai Viễn, Chi Thôn (Vân Nam). Tháng 6 năm 1940, khi Pháp đầu hàng Đức và Nhật tiến vào Đông Dương, thực hiện chỉ thị của Bác, ông họp Ban lãnh đạo Đảng ở nước ngoài bàn việc thành lập Hội Việt Nam Độc lập Đồng minh, rồi cùng Người chuyển đến Tĩnh Tây (Quảng Tây) giáp biên giới Việt Nam để chuẩn bị về nước. Tại đây, ông tham gia huấn luyện 40 cán bộ cốt cán, sẵn sàng cho thời cơ cách mạng.
Tháng 1 năm 1941, cùng với lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc (Chủ tịch Hồ Chí Minh) trở về nước hoạt động cách mạng. Tại Hội nghị lần thứ VIII Ban chấp hành Trung ương Đảng (tháng 5/1941), đồng chí được bầu lại vào Ban chấp hành Trung ương Đảng. Theo chủ trương của Trung ương Đảng, Trung đội Cứu quốc quân 1 được thành lập trên cơ sở đội du kích Bắc Sơn, đồng chí được cử làm Chỉ huy trưởng. Đồng chí đã cùng Trung ương Đảng quyết định thay đổi chiến lược cách mạng Việt Nam, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên trên hết, trước hết. Đây là bước ngoặt quan trọng tạo tiền đề đem lại thắng lợi to lớn của cách mạng Tháng Tám năm 1945.
Ngày 19 tháng 8 năm 1941, cánh quân của Phùng Chí Kiên và Lương Văn Tri qua Pò Kép (châu Na Rì, Bắc Kạn) thì bị giặc phục kích nhưng thoát được. Ngày 21 tháng 8 năm 1941, đơn vị lại bị phục kích và bị bao vây tại xã Bằng Đức trên đường đi Cao Bằng. Lương Văn Tri bị thương rồi hy sinh. Mặc dù bị thương nặng, Phùng Chí Kiên vẫn bắn chặn quân đối phương để đồng đội thoát khỏi vòng vây. Bắn hết viên đạn cuối cùng, ông bị giặc bắt. Mặc dù đang bị kẻ địch hành hung, ông vẫn bình tĩnh kêu gọi lính dõng: “Chúng tôi là người yêu nước đi đánh Pháp, đuổi Nhật để giải phóng đồng bào. Chúng ta là người Việt Nam, cần phải đoàn kết chống kẻ thù chung”. Hòng chặt đứt khí thế cách mạng và uy hiếp tinh thần cán bộ, Nhân dân địa phương, ngày 22 tháng 8 năm 1941, kẻ địch đã chặt đầu ông đem cắm ở cầu Ngân Sơn.
Người cộng sản kiên cường Phùng Chí Kiên ngã xuống khi tròn 40 tuổi. Phùng Chí Kiên
- người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những người lính cách mạng đầu tiên ngã xuống vì sự nghiệp giải phóng dân tộc. Sự hy sinh của ông là một tổn thất lớn cho cách mạng lúc bấy giờ.
Ngày 23/9/1947, ghi nhận công lao của ông trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 89/SL truy phong cấp tướng cho ông. Đây là sắc lệnh phong tướng đầu tiên của Việt Nam và Phùng Chí Kiên trở thành vị tướng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Năm 1994, liệt sĩ Phùng Chí Kiên được truy tặng Huân chương Chiến công hạng ba. Hơn 62 năm sau ngày mất, tháng 11 năm 2003, Đảng và Chính phủ ra quyết định công nhận ông là nguyên Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng (khóa I - từ Đại hội II của Đảng năm 1951 đã thành lập ra Bộ Chính trị và không còn Ban Thường vụ Trung ương Đảng), Sĩ quan quân đội cấp tướng, Liệt sĩ hy sinh anh dũng trong chiến đấu.
Hai năm sau ngày đồng chí Phùng Chí Kiên hy sinh, trong báo Cờ giải phóng, số 2, ra ngày 26/8/1943, đồng chí Trường Chinh, lúc đó là Tổng bí thư của Đảng đã viết bài ghi nhận: “Anh Phùng hay anh Lý vĩnh biệt chúng ta đã hai năm rồi!... Thế là một chiến sĩ tài ba, lỗi lạc đã bỏ mình nơi ngàn cây dặm cỏ… Cái chết của anh là một sự thiệt thòi cho Đảng. Nó còn gieo biết bao nỗi thương tiếc cho các đồng chí. Anh Phùng đã khuất. Nhưng tinh thần anh vẫn sống mãi với non sông, cây cỏ. Chúng ta càng nhớ đến anh, càng phải nỗ lực chiến đấu để chóng hoàn thành sự nghiệp vĩ đại của Đảng mà anh đã hoàn toàn ký thác nơi chúng ta”.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng từng khẳng định: “Phùng Chí Kiên là một người cộng sản kiên trung, một vị tướng tài ba của quân đội ta. Trọn một đời đi theo Đảng, theo Bác Hồ tham gia cách mạng và kháng chiến”.
Ngày nay, tên của ông đã được đặt cho các con đường ở Hà Nội, Vinh, Đồng Hới, Huế, Thái Nguyên, Đà Nẵng, Hải Dương, Lào Cai và Lạng Sơn. Năm 2010, Khu lưu niệm Phùng Chí Kiên đã được xây dựng xã Hùng Châu (xã Diễn Yên cũ), tỉnh Nghệ An và đến ngày 23/8/2011 được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng Di tích Lịch sử cấp Quốc gia. Bên cạnh khu tưởng niệm là ngôi nhà đã nuôi dưỡng tuổi thơ và ý chí cách mạng của đồng chí. Nơi ấy đã chứng kiến sự lớn lên, trưởng thành và những lần bí mật trở về thăm nhà của cụ.
Khép lại chặng đường đời ngắn ngủi nhưng rực rỡ, đồng chí Phùng Chí Kiên đã để lại cho lịch sử một tấm gương sáng ngời về lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc và Nhân dân. Cuộc đời ông là bản hùng ca của ý chí, của niềm tin sắt son vào ngày mai độc lập. Năm tháng qua đi, tinh thần kiên trung ấy vẫn âm thầm lan tỏa, nhắc nhở mỗi thế hệ hôm nay phải sống có lý tưởng, có trách nhiệm và xứng đáng với những hy sinh lớn lao mà cha anh đã trao gửi cho non sông.



