Phùng Chí Kiên - Vị tướng văn võ song toàn đầu tiên của cách mạng Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Minh Trang

Đồng chí Phùng Chí Kiên tên khai sinh là Nguyễn Vĩ (còn có tên khác là Mạnh Văn Liễu, Can, hay Kan), sinh ngày 18 tháng 5 năm 1901 tại làng Mỹ Quan, tổng Vạn Phần (nay thuộc xã Diễn Yên, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An). Sinh trưởng trong một gia đình nông dân nghèo nhưng ông vẫn được cha mẹ nuôi dưỡng cho ăn học sớm. Đỗ sơ học xong, do hoàn cảnh khó khăn, ông phải nghỉ học để lao động giúp đỡ gia đình. Năm 1925, khi đang làm thuê cho một thương nhân người Hoa tại ga Yên Lý, người thanh niên giàu lòng yêu nước ấy đã quyết định gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên.
Cuộc gặp gỡ lịch sử và cái tên đầy ý nghĩa
Bước ngoặt lớn trong cuộc đời cách mạng của ông diễn ra vào tháng 10 năm 1926, khi ông cùng một số hội viên ưu tú được giới thiệu sang Quảng Châu (Trung Quốc) để dự lớp huấn luyện chính trị đầu tiên do Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tổ chức. Nhận thấy chí khí và tinh thần kiên cường của người học trò trẻ, Nguyễn Ái Quốc đã khuyên ông đổi tên thành Phùng Chí Kiên, với ý nghĩa sâu sắc: sự tương phùng, gặp gỡ giữa chí khí lớn và lòng kiên trung bất khuất. Nhằm đào tạo ông thành người tổ chức và đứng đầu lực lượng vũ trang sau này, Nguyễn Ái Quốc đã chọn cử ông vào học tại Trường Võ bị Hoàng Phố. Tại đây, dưới danh nghĩa Mạnh Văn Liễu, ông đã chứng tỏ khả năng về quân sự nổi bật của mình. Tháng 12 năm 1927, ông tham gia Khởi nghĩa Quảng Châu và được bổ nhiệm làm Liên trưởng (Đại đội trưởng) Hồng quân công nông Trung Quốc. Đến cuối năm 1929, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Trung Quốc, và đến cuối năm 1930, ông chính thức trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương.
Bản lĩnh trui rèn qua bão táp
Cuộc đời hoạt động cách mạng của Phùng Chí Kiên là những tháng ngày rèn luyện phi thường vượt qua muôn vàn gian khổ. Đầu năm 1931, trên đường sang Liên Xô học tập, ông bị phát xít Nhật bắt giam gần một năm tại Mãn Châu. Sau khi thoát khỏi lao tù, ông đổi tên là Can rồi tiếp tục hành trình đến Moscow để học tập tại Trường Đại học Phương Đông của Quốc tế Cộng sản. Tại đây, ngoài lý luận cách mạng và khoa học xã hội, ông còn nỗ lực tự học toán học, vật lý, thành thạo mật mã quân sự và vô tuyến điện. Trở về nước từ năm 1934, ông tham gia Ban lãnh đạo hải ngoại của Đảng, được bầu làm Ủy viên Thường vụ Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa I, và cùng đồng chí Hà Huy Tập trực tiếp về Sài Gòn chỉ đạo phong trào cách mạng trong nước đòi tự do, dân chủ, cơm áo, hòa bình.
Người lính tiên phong bên cạnh Bác Hồ
Đầu năm 1940, Phùng Chí Kiên gặp lại Nguyễn Ái Quốc tại Côn Minh. Ông đã tích cực hỗ trợ, bảo vệ và đưa Người đến nhiều địa phương thuộc tỉnh Vân Nam để xây dựng cơ sở cách mạng. Ngày 28 tháng 1 năm 1941, Phùng Chí Kiên cùng với Bác Hồ vượt biên giới trở về nước hoạt động tại Pác Bó (Cao Bằng). Tại đây, ông được Bác giao trọng trách soạn thảo tài liệu quân sự “Con đường giải phóng dân tộc”, đồng thời trực tiếp biên soạn giáo trình và đứng lớp huấn luyện kỹ thuật chiến tranh du kích, khởi nghĩa vũ trang cho hàng chục cán bộ cốt cán. Tại Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (tháng 5 năm 1941), ông tiếp tục được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương, được cử phụ trách công tác quân sự của Đảng, làm Tổng Chỉ huy khu căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai kiêm Chỉ huy trưởng Trung đội Cứu quốc quân thứ nhất.
Khúc tráng ca bất tử
Cuối tháng 6, đầu tháng 7 năm 1941, thực dân Pháp huy động một lực lượng quân sự quy mô lớn lên tới hơn 4.000 quân càn quét khốc liệt vào căn cứ địa Bắc Sơn - Võ Nhai nhằm tiêu diệt lực lượng cách mạng và cơ quan đầu não Việt Minh. Trong tình thế chênh lệch lực lượng gay gắt, Phùng Chí Kiên đã kiên cường chỉ huy Cứu quốc quân đánh trả oanh liệt, bảo vệ an toàn cho các cán bộ Trung ương rút lui về vùng an toàn.
Khi đơn vị tổ chức rút lên Cao Bằng nhằm bảo toàn lực lượng, họ liên tiếp rơi vào các cuộc phục kích hiểm nguy của kẻ thù. Ngày 21 tháng 8 năm 1941, tại làng Khau Phàn, xã Bằng Đức (nay thuộc Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn), đơn vị của ông bị bao vây chặt. Giữa làn mưa đạn, dù bản thân đã bị thương rất nặng, Phùng Chí Kiên vẫn giữ chặt súng, kiên cường bắn chặn quân đối phương để yểm trợ cho các đội viên phá vòng vây rút lui. Khi bắn hết viên đạn cuối cùng, người chỉ huy quả cảm đã sa vào tay giặc. Đối mặt với đòn roi tàn bạo của kẻ thù, ông vẫn bình tĩnh, hiên ngang tuyên truyền lòng yêu nước và lý tưởng độc lập dân tộc. Không thể khuất phục được ý chí thép của người chiến sĩ cộng sản, kẻ thù đã chặt đầu ông đem bêu ở đầu cầu Ngân Sơn hòng uy hiếp tinh thần quần chúng cách mạng vào ngày 22 tháng 8 năm 1941. Phùng Chí Kiên anh dũng ngã xuống khi vừa tròn 40 tuổi.
Tinh thần sống mãi với non sông
Sự hy sinh anh dũng của Phùng Chí Kiên là một tổn thất vô cùng to lớn đối với Đảng và sự nghiệp giải phóng dân tộc lúc bấy giờ. Để ghi nhận công lao to lớn của vị chỉ huy xuất sắc, ngày 23 tháng 9 năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 89/SL truy phong cấp Tướng cho đồng chí Phùng Chí Kiên – đây cũng là sắc lệnh phong tướng đầu tiên của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Người chiến sĩ tài ba, lỗi lạc ấy đã hiến dâng trọn vẹn cuộc đời mình cho Tổ quốc; và đúng như đồng đội đã viết về ông: "Anh Phùng đã mất. Nhưng tinh thần anh vẫn sống mãi với non sông".



