Phùng Hưng ?-791
Phùng Hưng (?-791): Thủ lĩnh cuộc khởi nghĩa lớn chống lại ách đô hộ của nhà Đường (thế kỷ VIII) ở An Nam, được nhân dân tôn kính gọi là Bố Cái Đại Vương.
Phùng Hưng (chữ Hán: 馮興; ? – ?), nổi tiếng với tôn hiệu Bố Cái Đại Vương (chữ Hán: 布盖大王), là thủ lĩnh khởi nghĩa chống lại ách đô hộ An Nam của nhà Đường năm 791, thời Bắc thuộc lần thứ ba (602–905) trong lịch sử Việt Nam.
Nguồn gốc tôn hiệu
sửasửa mã nguồn
Tôn hiệu phổ biến của Phùng Hưng, Bố Cái Đại Vương (布盖大王), được coi là một trong những trường hợp sử dụng chữ Nôm bản địa cổ nhất hiện còn lưu truyền.[1][2] Việt điện u linh tập (1329) giải nghĩa hai chữ Bố Cái (布盖) là "bố mẹ", vì theo quốc tục mà đặt vậy. Các bộ chính sử về sau như Đại Việt sử ký toàn thư (1697) đời Hậu Lê và Khâm định Việt sử Thông giám cương mục (1859) đời Nguyễn đều dẫn cổ sử mà khẳng định tương tự. Trong Việt-Nam cổ văn học sử (1942), Nguyễn Đổng Chi nhận thấy sự tương đồng giữa danh hiệu trên và những từ chỉ đấng sinh thành trong tiếng Mường Lào như bọ "bố" và cày "mẹ".[3]
Tuy nhiên, tồn tại một luồng ý kiến trái chiều tới từ một số nhà ngôn ngữ học – tiêu biểu gồm có A.G. Haudricourt và Mei Tsu-Lin – cho rằng hai chữ kia đáng ra phải được hiểu là "bua/vua lớn" dựa trên bằng chứng ngữ âm tiếng Hán trung cổ và rằng cách đọc "bố cái" rõ ràng lệch thời.[4][2] Nhận xét về giả thuyết của Haudricourt, sử gia Keith W. Taylor trong công trình The Birth of Vietnam (1983) cho rằng đề xuất đó tuy "khá hợp lý và thú vị", song cũng phải chú ý rằng Việt điện u linh tập, vốn được soạn gần thời gian xảy ra sự kiện hơn, minh giải danh hiệu kia là "bố mẹ".[5] Dù vậy, trong một bài đăng sau đó trên tạp chí The Vietnam Forum (1986), Taylor rút lại nhận định của mình và cho rằng suy đoán của Haudricourt khá thuyết phục.[6]
Năm 1994, Nguyễn Tài Cẩn phản bác giả thuyết "bua/vua cái" trong một bài báo ngôn ngữ học viết bằng tiếng Nga, đọc trước hội thảo khoa học tại Sankt-Peterburg. Theo đó, hai luận điểm chính mà ông đưa ra là: (1) lý giải chữ "cái" ở đây là "lớn" không thích hợp về mặt ngữ nghĩa, bởi vì từ này thường được dùng cho các sự vật có tính đối lập nghĩa "lớn – nhỏ" hoặc "mẹ – con"; và (2) "bố mẹ" hoàn toàn có thể mang nghĩa "thủ lĩnh, lãnh đạo" mà không cần phải lập luận dựa trên sự thay đổi cách đọc chữ 布, sở dĩ vì hiện tượng lấy danh từ chỉ người bề trên để nói bóng về thủ lĩnh xuất hiện khá phổ biến trong các ngôn ngữ ở Đông Dương.[a][2]
Sử liệu
sửasửa mã nguồn



