Khác

Plei Me – Khúc tráng ca trên đại ngàn Tây Nguyên

Chiến thắng Plei Me – Ia Đrăng năm 1965 là trận đầu đánh Mỹ trên chiến trường Tây Nguyên, nơi trí tuệ, lòng quả cảm và tình quân dân đã đánh bại sức mạnh “kỵ binh bay” của Mỹ.

Đồng Tháp22/10/2026Nguyễn Thị Kiều Uyên (Đoàn Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trận đầu đối mặt với “khổng lồ”

Mùa hè năm 1965, chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ phá sản. Mỹ chuyển sang “Chiến tranh cục bộ”, ồ ạt đưa quân viễn chinh vào trực tiếp tham chiến với tham vọng đánh nhanh, thắng nhanh. Giới quân sự Mỹ tự tin: “Không có lý do gì khiến chúng ta không thể thắng”.

Tháng 9/1965, Sư đoàn Kỵ binh không vận số 1 đổ bộ xuống An Khê (Gia Lai). Đây là “đứa con cưng” của Bộ trưởng Quốc phòng McNamara, với gần 16.000 quân, 434 máy bay trực thăng, 1.600 xe các loại và hỏa lực cực mạnh. Nhiệm vụ của chúng là tìm diệt chủ lực Quân giải phóng, cắt đứt Tây Nguyên với đồng bằng và tuyến chi viện từ miền Bắc.

Cả thế giới khi đó đặt câu hỏi: một đất nước nhỏ bé liệu có đương đầu nổi cỗ máy chiến tranh khổng lồ ấy? Câu trả lời đã được viết nên trên đại ngàn Tây Nguyên, trong Chiến dịch Plei Me (19/10 – 26/11/1965) – chiến dịch đánh Mỹ đầu tiên của lực lượng vũ trang Mặt trận Tây Nguyên.

Mưu trí “vây điểm, diệt viện” và thung lũng Ia Đrăng

Bộ Tư lệnh Chiến dịch do Thiếu tướng Chu Huy Mân làm Tư lệnh kiêm Chính ủy, huy động ba trung đoàn bộ binh 320, 33, 66 cùng các đơn vị đặc công, pháo binh, phòng không và lực lượng vũ trang địa phương. Cách đánh được xác định rõ: vây đồn Plei Me để nhử viện binh, đánh quân Sài Gòn trước, rồi kéo quân Mỹ vào sâu vùng rừng núi để tiêu diệt.

Đợt 1 (19 – 29/10). Đêm 19/10, Trung đoàn 33 nổ súng bao vây đồn Plei Me. Đúng như dự kiến, ngày 23/10, hơn 1.000 quân cùng hơn 40 xe tăng, thiết giáp kéo đến giải vây và lọt vào trận địa phục kích của Trung đoàn 320 trên Đường 21. Chỉ sau một đêm chiến đấu, Chiến đoàn Thiết giáp 3 bị đánh tan, khoảng 800 quân địch thương vong, 89 xe quân sự bị phá hủy.

Đợt 2 (30/10 – 10/11). Quân Mỹ nhảy vào với chiến thuật “nhảy cóc” bằng trực thăng, liên tục tập kích hậu phương chiến dịch. Mọi mũi đều bị chặn đánh, đẩy lui. Nắm chắc ý đồ của địch, Bộ Tư lệnh chọn thung lũng Ia Đrăng dưới chân núi Chư Pông làm nơi quyết chiến.

Đợt 3 (11 – 26/11) – trận then chốt Ia Đrăng. Ngày 14/11, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn Kỵ binh bay số 7 do Trung tá Harold Moore chỉ huy đổ bộ xuống thung lũng. Tiểu đoàn 9 (Trung đoàn 66) bị tấn công bất ngờ nhưng lập tức phản kích, buộc quân Mỹ co cụm chống đỡ. Với tinh thần “nắm thắt lưng địch mà đánh”, bộ đội ta áp sát để vô hiệu hóa hỏa lực địch.

Trước nguy cơ bị tiêu diệt, lần đầu tiên Mỹ dùng máy bay chiến lược B-52 rải thảm yểm trợ trực tiếp cho bộ binh. Bom napan thiêu rụi những cánh rừng, hàng nghìn quả đạn pháo dội xuống thung lũng. Nhưng đêm 16/11, Tiểu đoàn 7 vẫn tiến công không ngừng nghỉ. Nhiều chiến sĩ lạc trong rừng đêm đã nhằm hướng tiếng súng mà lao tới phối hợp.

Ngày 17/11, Tiểu đoàn 8 (Trung đoàn 66) cùng Tiểu đoàn 1 (Trung đoàn 33) đánh thẳng vào Tiểu đoàn 2, Trung đoàn Kỵ binh bay số 7. Giữa mưa bom, bão đạn, bộ đội chia nhiều mũi xốc tới, cắt đội hình địch thành từng mảng. Đến chiều tối, tiểu đoàn Mỹ bị tiêu diệt phần lớn. Ngày 26/11/1965, chiến dịch kết thúc: gần 3.000 quân địch bị loại khỏi vòng chiến đấu, trong đó có khoảng 1.700 lính Mỹ; 59 máy bay bị bắn rơi.

Những con người làm nên chiến thắng

Phía sau những con số trên là những con người cụ thể, với lòng dũng cảm và sự hy sinh lặng thầm.

Chiều 17/11/1965, giữa trận đánh quyết định, Tiểu đoàn trưởng Lê Xuân Phôi đã hy sinh khi đang trực tiếp chỉ huy đơn vị. Ngã xuống một người chỉ huy, đồng chí Luận, Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 1 (Trung đoàn 33), lập tức đứng lên chỉ huy chung hai đơn vị, dẫn dắt anh em đánh đến thắng lợi cuối cùng. Riêng trận ngày 16/11, hơn 50 cán bộ, chiến sĩ đã nằm lại. Toàn chiến dịch, hơn 1.200 cán bộ, chiến sĩ đã hy sinh và bị thương.

Chiến thắng còn mang dấu ấn của đồng bào các dân tộc Gia Lai. Nhân dân đã đóng góp 1.200 tấn lương thực, thực phẩm. Hơn 2.500 dân công hỏa tuyến đã gùi đạn, cõng gạo, khiêng cáng thương binh và dẫn đường cho bộ đội. Hậu phương ngay tại chỗ chính là lòng dân Tây Nguyên.

Ghi nhận chiến công đặc biệt xuất sắc này, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh đã tặng các đơn vị tham gia hai Huân chương Quân công hạng Nhất. Đại tướng Nguyễn Chí Thanh giải thích: quân đội ta không có huân chương nào cao hơn Huân chương Quân công, nên để xứng với chiến thắng này, Bộ quyết định tặng hai huân chương.

Trận đánh làm thay đổi cuộc chiến và bài học cho hôm nay

Plei Me – Ia Đrăng là thất bại đầu tiên của quân Mỹ trên chiến trường miền Nam. Chiến thắng chứng minh quân và dân ta không chỉ dám đánh Mỹ, mà còn biết cách đánh thắng Mỹ, có thể tiêu diệt từng tiểu đoàn quân Mỹ dù địch vượt trội về hỏa lực và sức cơ động. Sau khi nghe báo cáo về Ia Đrăng, Bộ trưởng McNamara phải thừa nhận: “Cuộc chiến tranh mà Mỹ theo đuổi ở Việt Nam sẽ là một cuộc chiến tranh lâu dài”. Chính tướng Harold Moore và phóng viên Joseph Galloway, những người có mặt tại trận đánh, sau này cũng gọi đây là “trận đánh đã làm thay đổi cuộc chiến tranh ở Việt Nam”.

Hơn nửa thế kỷ đã qua, thung lũng Ia Đrăng năm xưa nay đã xanh lại. Mỗi chúng ta hôm nay không phải vượt qua mưa bom bão đạn. Nhưng tinh thần dám nghĩ, dám làm, kiên trì và sáng tạo của những người lính Plei Me vẫn là ngọn đuốc soi đường cho thế hệ trẻ trong công việc và cuộc sống hôm nay.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn