Khác

QUÂN VÀ DÂN QUẢNG TRỊ THỰC HIỆN NHIỆM VỤ SAU CHIẾN THẮNG

Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, hòa bình được lập lại trên toàn cõi Đông Dương, ở nước ta miền Bắc được hoàn toàn giải phóng. Nhưng với hiệp định này, vĩ tuyến 17 (sông Hiền Lương) trên địa phận tỉnh Quảng Trị đã trở thành giới tuyến quân sự tạm thời ngăn cách hai miền đất nước. Việc thi hành các điều khoản của hiệp định làm cho tình hình Quảng Trị có sự thay đổi lớn. Phía bắc sông Hiền Lương gồm hầu hết huyện Vĩnh Linh được hoàn toàn giải phóng, các huyện, thị trấn phía nam sông còn nằm trong

31/03/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ
Tình hình phức tạp đó ảnh hưởng mạnh mẽ và sâu sắc đến các mặt hoạt động của các cấp ủy Đảng, chính quyền, lực lượng vũ trang và nhân dân Quảng Trị.

Với bản chất hiếu chiến và xâm lược, thực dân Pháp được bọn can thiệp Mỹ “bật đèn xanh” không ngừng phá hoại hiệp định Giơ-ne-vơ, ráo riết thực hiện âm mưu biến vùng tạm đóng quân ở Quảng Trị nói riêng và ở miền Nam Việt Nam nói chung thành căn cứ quân sự.

Thực hiện âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta, thực dân Pháp và bọn can thiệp Mỹ cấu kết với nhau một mặt tăng cường hoạt động quân sự, mặt khác xúc tiến hoạt động chính trị và nhiều hình thức phá hoại khác...

Về quân sự, giặc Pháp chuyển lính Âu Phi ra Quảng Trị, đóng dọc giới tuyến và các cứ điểm quan trọng khác như Dốc Miếu, Đông Hà, thị xã Quảng Trị, đồng thời chúng đưa quân ngụy vào các tỉnh phía nam chỉ để lại một số tiểu đoàn chiếm đóng dọc bờ biển .

Cùng với các hoạt động chuyển quân, địch ráo riết bắt thanh niên đi lính để lập Bảo chính quân là lực lượng trợ lực cho cơ quan ngụy quyền. Đến tháng 11 năm 1954, Bảo chính quân ở Quảng Trị có 10 đại đội, mỗi đại đội có từ 100 đến 120 tên.

Song song với các hoạt động quân sự, địch tăng cường hoạt động chính trị, ráo riết thực hiện âm mưu cưỡng ép đồng bào theo đạo Thiên Chúa di cư vào Nam, chuẩn bị cơ sở chính trị cho Ngô Đình Diệm - trực tiếp là Ngô Đình Cẩn lập ngụy quyền tay sai, xúc tiến khủng bố phong trào đấu tranh của quần chúng để nhanh chóng ổn định tình hình chính trị của chúng ở Quảng Trị, Thừa Thiên.

Tất cả các hoạt động chính trị, quân sự của địch đều nhằm mục đích phá cơ sở chính trị của ta, phá hiệp định Giơ-ne-vơ, tiến tới phá tổng tuyển cử tự do thống nhất nước nhà và thực hiện âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta.

Ngày 21 tháng 7 năm 1954 sau khi hội nghị Giơ-ne-vơ vừa kết thúc, tại chiến khu Ba Lòng, Thường vụ Tỉnh ủy đã tổ chức hội nghị cán bộ toàn tỉnh tập trung thảo luận, phân tích đặc điểm vị trí của Quảng Trị sau khi thực hiện xong việc chuyển quân tập kết. Hội nghị nhấn mạnh công tác tư tưởng là: “Cán bộ đảng viên không vì hòa bình mà lơ là mất cảnh giác đối với mọi âm mưu thủ đoạn mới của địch” . Cán bộ, đảng viên phải tích cực cùng với quần chúng bảo vệ và phát huy mọi thành quả của cách mạng đã giành được. Về tổ chức, hội nghị nhất trí quyết định: “Từ nay chuyển chi bộ từ đơn vị xã thành các đơn vị theo đơn vị thôn. Tổ chức cơ sở Đảng ở vùng địch tạm đóng quân phải gọn và bí mật”3. Sau khi lệnh ngừng bắn có hiệu lực, để kịp thời lãnh đạo quân và dân trong tỉnh thực hiện nhiệm vụ mới, Tỉnh ủy Quảng Trị khẩn trương sắp xếp tổ chức Đảng, chính quyền, và bố trí cán bộ, đảng viên ở lại hoạt động gây cơ sở lâu dài lãnh đạo nhân dân đấu tranh buộc địch thi hành hiệp định đồng thời tuyên truyền rộng rãi chủ trương chính sách của Đảng và thắng lợi của hiệp định Giơ-ne-vơ, ra sức vận động nhân dân giúp đỡ nhau nhanh chóng ổn định đời sống và sinh hoạt, đẩy mạnh tăng gia sản xuất.

Đối với huyện Vĩnh Linh hoàn toàn giải phóng, sau khi địch rút khỏi ta đã nhanh chóng vào tiếp quản, thành lập chính quyền cách mạng và ổn định mọi mặt sinh hoạt bình thường cho nhân dân.

Phát huy ảnh hưởng thắng lợi to lớn của hiệp định Giơ-ne-vơ, đồng thời biểu dương lực lượng quần chúng, ngày 18-8-1954, Tỉnh ủy Quảng Trị tổ chức lễ kỷ niệm cách mạng tháng Tám rất rầm rộ và trọng thể tại Phước Môn (Hải Lăng). Gần một vạn người đại diện đủ các thành phần, ăn mặc chỉnh tề từ khắp các nơi trong tỉnh kéo về dự lễ, bất chấp mọi sự đe dọa, ngăn cấm, kiểm soát của bọn lính lê dương, cảnh sát và mật vụ.

Sau buổi lễ đồng bào đã ở lại cùng cán bộ, bộ đội dự cuộc liên hoan văn nghệ tiễn đưa những người con của quê hương đi tập kết miền Bắc.

Ngày 23 tháng 8 năm 1954, sau khi hoàn thành mọi công việc chuẩn bị, cán bộ và nhân dân Quảng Trị - Những người ở lại - đã lưu luyến tiễn đưa hơn 1.543 bộ đội địa phương, 617 du kích, 1437 cán bộ và nhân dân, 200 hàng binh lên đường ra Bắc tập kết.

Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.

macbupda

Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL

Quảng Trị kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)« Trả lời #62 vào lúc: 02 Tháng Bảy, 2020, 03:28:30 pm »
Ngày 2-9-1954, tại sân vận động Trạng Cù (Vĩnh Nam) Huyện ủy Vĩnh Linh tổ chức cuộc mít tinh kỷ niệm ngày Quốc khánh 2-9 và chào mừng quê hương giải phóng. Gần 30.000 người từ khắp các nơi trong huyện kéo về mừng ngày hội lớn. Tại buổi lễ trọng thể này, sau khi biểu dương những thành tích to lớn mà quân và dân Vĩnh Linh cùng quân và dân tỉnh nhà và cả nước đã giành được, đồng chí Chủ tịch Vĩnh Linh công bố một số chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước đối với vùng mới giải phóng, đồng thời kêu gọi quân và dân toàn khu vực tăng cường đoàn kết, hăng hái tăng gia thi đua sản xuất khắc phục hậu quả chiến tranh, xây dựng lại quê hương, từng bước ổn định cuộc sống.

Để nhân dân Vĩnh Linh nhanh chóng ổn định mọi mặt sinh hoạt, đồng thời làm nhiệm vụ bảo vệ giới tuyến quân sự tạm thời, sau khi ngừng bắn Bộ tư lệnh Liên khu 4 đã điều Trung đoàn 270 vào Vĩnh Linh đồng thời thành lập đại đội công an vũ trang thứ nhất (8-1954) và đại đội thứ hai (11-1954).

Các đơn vị bộ đội, công an vũ trang cùng với bộ đội địa phương, dân quân du kích và nhân dân các dân tộc Vĩnh Linh vừa khắc phục hậu quả chiến tranh, đẩy mạnh tăng gia sản xuất ổn định đời sống, vừa luôn đề cao cảnh giác, ngăn chặn kịp thời mọi âm mưu, hành động phá hoại của địch, bảo vệ an toàn khu phi quân sự, góp phần thực hiện đấu tranh thống nhất nước nhà.

Các huyện thị của Quảng Trị ở bờ Nam sông Bến Hải, theo quy định của hiệp định Giơ-ne-vơ trở thành vùng tạm đóng quân của địch.

Với mưu đồ chia cắt lâu dài đất nước ta, địch ngày càng trắng trợn phá hoại hiệp định nên sau khi Pháp thất bại, tháng 9-1954, Mỹ lôi kéo Anh, Pháp và một số nước khác lập ra khối quân sự xâm lược Đông Nam Á và láo xược tuyên bố: Việt Nam, Lào, Campuchia nằm trong phạm vi “bảo vệ” của khối đó. Thế là chỉ một thời gian rất ngắn sau khi thực dân Pháp bị đại bại ở chiến trường Đông Dương, đế quốc Mỹ đã vội vã nhảy vào thay chân Pháp. Giờ đây nhân dân Quảng Trị ở bờ nam sông Bến Hải nói riêng và đồng bào miền Nam nói chung chưa được hưởng một ngày hòa bình trọn vẹn lại phải đương đầu với một thế lực thù địch mới.

*
* *
Trong hai năm cuối của cuộc kháng chiến, mà đặc biệt từ khi bộ đội chủ lực được điều đi phục vụ chiến trường chính là thời kỳ thử thách ác liệt nhất, nỗ lực cao nhất của quân và dân Quảng Trị. Các lực lượng vũ trang và nhân dân đã tự lực tự cường đảm đương nhiệm vụ bảo vệ mùa màng, bảo vệ khu du kích và căn cứ địa kháng chiến. Với tinh thần và quyết tâm: “Tất cả cho chiến thắng”, quân dân toàn tỉnh đã kiên cường bám trụ, một tấc không đi một li không rời, giành đất, giành dân, giành quyền làm chủ, liên tục tiến công, tiêu hao tiêu diệt địch, mở rộng vùng giải phóng làm tròn trách nhiệm của một chiến trường phối hợp, tạo điều kiện cho chiến trường chính giành thắng lợi quyết định; Đặc biệt đã góp phần tích cực tiêu hao, tiêu diệt, kìm chân các binh đoàn cơ động của Pháp không cho chúng tăng viện cho chiến trường Điện Biên Phủ. Tạo điều kiện để quân ta giành thắng lợi quyết định làm nên một Điện Biên Phủ “Lừng lẫy năm châu chấn động địa cầu” kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

Cùng với nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ quê hương quân dân ta còn dốc sức người, sức của chi viện đắc lực cho chiến trường Trung, Hạ Lào, đặc biệt tạo mọi điều kiện giúp đỡ cho Tiểu đoàn 436 hoàn thành nhiệm vụ trên chiến trường miền tây nước bạn, góp phần xây đắp tình đoàn kết chiến đấu đặc biệt của nhân dân và lực lượng vũ trang 2 nước Việt - Lào.

Thắng lợi toàn diện về cả quân sự, chính trị kinh tế binh vận trong những năm 1953-1954 của quân và dân Quảng Trị là thắng lợi của lòng yêu nước nồng nàn, kết tinh sức mạnh tổng hợp của thế trận chiến tranh nhân dân, của ý chí tự lực, tự cường, chiến đấu hy sinh anh dũng vì độc lập tự do của đất nước, quê hương. Thắng lợi đó vừa thể hiện sự tiến bộ trưởng thành càng đánh càng mạnh của lực lượng vũ trang tỉnh, vừa khẳng định vai trò lãnh đạo chỉ huy của cấp ủy, chính quyền các cấp trong toàn tỉnh.

Sau hiệp định Giơ-ne-vơ, hòa bình đã được lập lại trên toàn cõi Đông Dương, nhưng nhân dân và lực lượng vũ trang Quảng Trị lại bước vào một cuộc chiến đấu mới ròng rã suốt 21 năm tiếp theo với một kẻ thù mới tàn bạo hơn, giàu mạnh hơn.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn