Bài viết

Sắc đỏ cuộc chia ly và nốt nhạc kiên trung bên bờ sông Kôn

Bài viết tái hiện câu chuyện lịch sử có thật về nhà thơ - chiến sĩ Nguyễn Mỹ, tác giả bài thơ "Cuộc chia phân ly màu đỏ". Giữa vùng ven An Nhơn (Bình Định) ngập tràn bom đạn năm 1968, dù mang căn bệnh sốt rét rừng quật ngã, ông vẫn kiên quyết dấn thân cùng đồng đội vượt qua các trận càn quét tàn khốc, bám sát chiến trường để ghi lại hơi thở cuộc chiến cho đến khi trút hơi thở cuối cùng bên bờ sông Kôn năm 1971.

Quảng Trị22/10/2026Đoàn phường Tân Thuận (Phường Tân Thuận)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong hành trình đấu tranh giải phóng dân tộc gian khổ mà vĩ đại của dân tộc Việt Nam, "kỷ nguyên hoa lửa" kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã ghi dấu biết bao tấm gương hy sinh oanh liệt của thế hệ trẻ. Trong lực lượng văn nghệ sĩ cách mạng, những người thi sĩ - chiến sĩ không chỉ dùng ngòi bút làm vũ khí mà còn đem chính xương máu và thanh xuân của mình dấn thân nơi đầu sóng ngọn gió. Nhà thơ, liệt sĩ Nguyễn Mỹ chính là một trong những gương mặt tiêu biểu nhất cho lý tưởng sống cao đẹp ấy. Không chỉ đóng góp cho nền văn học cách mạng tác phẩm bất hủ "Cuộc chia phân ly màu đỏ", cuộc đời chiến đấu thực tế của ông giữa vùng lửa miền Trung những năm 1968 - 1971 là một câu chuyện lịch sử chân thực, cảm động và tràn đầy ý nghĩa nhân văn, để lại những bài học sâu sắc cho thế hệ hôm nay và mai sau.

Nhà thơ Nguyễn Mỹ tên thật là Nguyễn Đình Mỹ, sinh năm 1935 tại xã An Nghiệp, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên. Sinh ra trong một gia đình giàu truyền thống yêu nước, năm 1952 khi mới 17 tuổi, ông gia nhập Quân đội nhân dân Việt Nam, chiến đấu tại chiến trường Liên khu 5. Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954, ông tập kết ra Bắc, công tác tại Nhà xuất bản Văn học rồi làm biên tập viên Báo Văn nghệ. Năm 1965, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ bước vào giai đoạn quyết liệt, ông đã tình nguyện vượt dãy Trường Sơn trở về miền Nam chiến đấu, công tác tại Ban Tuyên huấn Khu 5 và Báo Giải phóng Trung Trung Bộ. Sự đóng góp lớn nhất của Nguyễn Mỹ đối với lịch sử và nghệ thuật chính là ông đã mang hơi thở chân thực của chiến trường vào thơ ca, biến thơ thành nguồn sức mạnh tinh thần cổ vũ hàng vạn thanh niên xông ra mặt trận, đồng thời chính ông cũng là một người lính trực tiếp cầm súng bảo vệ quê hương đến hơi thở cuối cùng.

Một câu chuyện lịch sử có thật đầy xúc động về ông đã diễn ra vào giữa năm 1968 tại chiến trường An Nhơn, tỉnh Bình Định. Thời điểm đó, sau đợt Tổng tiến công Mậu Thân 1968, quân Mỹ và quân đội Sài Gòn liên tục mở các trận càn quét khốc liệt nhằm "bình định" các vùng giải phóng, tàn phá các căn cứ cách mạng ở duyên hải miền Trung. Nguyễn Mỹ cùng các đồng đội trong đoàn công tác Báo Giải phóng phải bám sát các xóm làng ven sông Kôn để hoạt động. Giữa lúc chiến trường ngập tràn bom đạn, Nguyễn Mỹ bất ngờ bị một cơn sốt rét rừng tàn khốc quật ngã. Toàn thân ông run lên từng hồi giữa cái nóng hừng hực của miền Trung, da dẻ xanh xao, cơ thể suy kiệt đến mức không thể tự bước đi. Cấp trên và đồng đội kiên quyết yêu cầu ông lùi về căn cứ an toàn ở vùng núi cao để chữa bệnh và bảo toàn lực lượng.

Thế nhưng, trước sự lo lắng của đồng đội, Nguyễn Mỹ đã kiên quyết từ chối lui về hậu phương. Giữa căn hầm ngột ngạt ngập mùi khói bom, người thi sĩ - chiến sĩ ấy đã nói bằng tất cả sự chân thành và bản lĩnh của mình: "Thơ và bài viết của tôi không thể ra đời từ nơi an toàn. Tôi phải ở lại đây, cùng chịu đựng gian khổ với nhân dân và chiến sĩ thì mới ghi lại đúng hơi thở của cuộc chiến này". Ông gạt đi những lời khuyên ngăn, tự tựa lưng vào vách hầm, dùng cánh tay run rẩy vì sốt rét để lau khô mồ hôi và tiếp tục cầm bút chép lại những dòng tư liệu chiến trường.

Trong những ngày bám trụ tại vùng ven An Nhơn năm 1968, Nguyễn Mỹ cùng đồng đội phải sống dưới những căn hầm bí mật ngột ngạt thiếu không khí, ăn sắn lùi trừ cơm và nhấp từng ngụm nước mặn chát. Mỗi khi máy bay địch oanh tạc hay xe tăng tràn qua, ông lại cùng đồng đội tay cầm chắc súng, tay giữ chặt hủ tài liệu và bản thảo. Dù trong hoàn cảnh ranh giới giữa sống và chết chỉ tính bằng từng phút giây, ông vẫn giữ một tâm hồn trong trẻo và nụ cười lạc quan. Chính trong những ngày tháng gian lao tột cùng ấy, những bài thơ giàu chất mỏng và rực lửa chiến đấu như "Hoa cúc đỏ", "Bài thơ số 8" đã ra đời từ tay ông, trở thành món ăn tinh thần vô giá cho các chiến sĩ Giải phóng quân trước giờ ra trận. Sự dấn thân không mệt mỏi ấy kéo dài cho đến ngày 16 tháng 5 năm 1971, trong một trận càn quét tàn khốc của không quân và biệt kích địch bên bờ sông Kôn (xã Nhơn Hòa, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định), nhà thơ Nguyễn Mỹ đã anh dũng hy sinh khi tay vẫn cầm chắc vũ khí bảo vệ căn cứ và tài liệu cách mạng, trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 36.

Câu chuyện lịch sử có thật về nhà thơ - liệt sĩ Nguyễn Mỹ cùng sự hy sinh của ông bên bờ sông Kôn mang lại những bài học vô cùng ý nghĩa và sâu sắc cho thế hệ hôm nay.

Ý nghĩa cao đẹp nhất trong hành động của các cụ thời hoa lửa, mà Nguyễn Mỹ là một đại diện tiêu biểu, chính là bài học về lý tưởng sống cống hiến, trách nhiệm và lòng dấn thân vì Tổ quốc. Nguyễn Mỹ đã chứng minh rằng: Giá trị của tri thức, tài năng và nghệ thuật chỉ thực sự phát sáng khi nó gắn liền với vận mệnh của nhân dân và đất nước. Ông sẵn sàng từ bỏ cuộc sống an toàn nơi hậu phương, gạt qua bệnh tật và hiểm nguy để xông vào nơi tuyến đầu khói lửa. Hành động ấy nhắc nhở thế hệ trẻ ngày nay không được sống hoài, sống phí, sống ích kỷ; phải biết cống hiến tri thức và sức trẻ cho sự phát triển của quê hương.

Bên cạnh đó, câu chuyện còn là bài học sâu sắc về tinh thần trung thực trong lao động, nghệ thuật và thái độ sống. Muốn tạo nên những giá trị chân chính "để đời", con người phải dám dấn thân, dám bám rễ sâu vào thực tế đời sống chứ không thể đứng ngoài quan sát hay hưởng thụ.

Chiến tranh đã trôi qua hơn nửa thế kỷ, dòng sông Kôn nay đã êm đềm chảy qua những xóm làng xanh tươi màu lúa mới. Thế nhưng, "sắc đỏ cuộc chia ly" cùng nốt nhạc kiên trung của nhà thơ - chiến sĩ Nguyễn Mỹ vẫn mãi tỏa sáng trong trang sử vàng dân tộc. Tấm gương xả thân của ông cùng thế hệ cha anh chính là ngọn đuốc soi đường, nhắc nhở chúng ta phải luôn trân trọng giá trị của hòa bình, độc lập, đồng thời nỗ lực học tập và cống hiến để xây dựng một Việt Nam ngày càng giàu đẹp, văn minh.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn