Sau Hè 1971 – Lòng dân Bình Định bền gan chống càn, xây dựng vùng làm chủ
Sau Hè 1971 – Lòng dân Bình Định bền gan chống càn, xây dựng vùng làm chủ
Sau đợt Hè năm 1971, chiến trường Bình Định vẫn tiếp tục diễn ra cuộc đấu tranh quyết liệt giữa ta và địch. Dù bị đánh phá, càn quét và kìm kẹp, phong trào quần chúng chống địch vẫn không lắng xuống mà âm ỉ, bền bỉ và ngày càng lan rộng. Ở nhiều địa phương, Nhân dân không chỉ đứng lên đấu tranh bảo vệ quê hương, mà còn tích cực xây dựng vùng làm chủ, phục vụ kháng chiến lâu dài.
Tại Bắc Phù Mỹ và Bắc Hoài Nhơn, trước thủ đoạn tàn bạo của địch khi dùng xe ủi cào xúc dân vùng ta, quần chúng đã mạnh mẽ vùng lên phản kháng. Những cuộc đấu tranh chống chiếm đất, chống khủng bố, đòi bồi thường thiệt hại diễn ra ở nhiều nơi, tiêu biểu là tại Mỹ Đức và Tam Quan Bắc. Trong bom đạn và hiểm nguy, Nhân dân vẫn kiên quyết bám đất, giữ làng, không để địch dễ dàng thực hiện âm mưu dồn dân, chiếm đất, chia cắt phong trào cách mạng.
Không chỉ đấu tranh ở nông thôn, phong trào công khai hợp pháp tiếp tục phát triển mạnh mẽ với 131.000 lượt người tham gia. Quần chúng đã trực tiếp vây đánh Mỹ và Nam Triều Tiên, đốt hơn 100 xe quân sự. Những hành động ấy thể hiện tinh thần căm thù giặc sâu sắc, ý chí kiên cường và quyết tâm không khuất phục của Nhân dân Bình Định trước bộ máy chiến tranh của địch.
Song song với đấu tranh chống địch, Nhân dân vùng làm chủ đồng bằng còn tích cực xây dựng thế trận làng chiến đấu. Họ đã xây dựng 35.490 mét phòng tuyến, 15.015 mét rào làng chiến đấu, đào 15.200 mét hào, cắm hơn 750.000 chông. Mỗi mét hào, mỗi hàng rào, mỗi bãi chông đều là biểu hiện sinh động của ý chí bảo vệ quê hương. Đó là thế trận của lòng dân, nơi từng làng quê trở thành pháo đài chống giặc.
Nhân dân còn đóng góp lớn cho kháng chiến bằng sức người, sức của. Họ mua 3.844 tấn lương thực, đóng góp hơn 13 triệu đồng, rút 2.722 thanh niên bổ sung cho lực lượng vũ trang huyện và tỉnh, đồng thời chữa trị cho hàng trăm thương binh. Những đóng góp ấy cho thấy hậu phương trong lòng vùng làm chủ luôn là nguồn sức mạnh bền bỉ, nuôi dưỡng phong trào cách mạng và tiếp thêm sức chiến đấu cho tiền tuyến.
Ở miền núi, phong trào sản xuất cũng được đẩy mạnh. Sản xuất tại các huyện miền núi tăng so với năm trước; các loại cây trồng như lúa, ngô, mì, đậu được gieo trồng nhiều hơn. Vĩnh Thạnh và An Lão lập hàng trăm tổ vần đổi công, tổ hợp tác lao động với hàng nghìn nhân khẩu tham gia. Trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt, Nhân dân vẫn vừa chiến đấu, vừa sản xuất, vừa xây dựng cuộc sống mới, góp phần bảo đảm lương thực và ổn định hậu phương.
Câu chuyện sau Hè 1971 là một trang sử đẹp trong những năm tháng thời hoa lửa của quân và dân Bình Định. Đó là câu chuyện về lòng dân bền gan chống càn, về những làng quê kiên cường dựng phòng tuyến, đào hào, cắm chông, về những người dân bình dị nhưng giàu lòng yêu nước. Chính sức mạnh ấy đã góp phần làm thất bại âm mưu “bình định” của địch, giữ vững vùng làm chủ và tiếp thêm niềm tin vào ngày quê hương hoàn toàn giải phóng.



