SAU HIỆP ĐỊNH PARIS
Đoạn văn kể về tình hình chiến trường sau khi ký Hiệp định Paris 1973. Mặc dù Mỹ rút quân, chính quyền Nguyễn Văn Thiệu vẫn tiếp tục cho quân lấn chiếm vùng giải phóng. Trên chiến trường Bình Định và Quảng Ngãi, các đơn vị của Quân khu 5 tổ chức nhiều trận đánh để giữ đất, mở rộng vùng giải phóng. Tác giả – lúc này là tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 6 – cùng đơn vị tham gia nhiều trận chiến ác liệt như đánh chiếm các cứ điểm Cự Tài và An Quý ở huyện Hoài Nhơn, phá vỡ tuyến phòng thủ của địch trên tr
Cuối năm 1972, chính quyền Sài Gòn liên tục xua quân nống ra đánh phá vùng giải phóng của ta. Trên địa bàn tỉnh Bình Định, lực lượng chủ lực quân đội Sài Gòn có sư đoàn 22 bộ binh và hai liên đoàn biệt động số 4 và số 6. Nhưng lực lượng địa phương quân khá đông. Trước khi hiệp định Paris được ký kết, địch tung lực lượng ra vùng giải phóng của ta, tranh thủ chiếm đất, giành dân. Nống ra đến đâu, chúng cắm cờ và xây dựng đồn bót đến đó. Do thất bại nặng nề trên khắp các chiến trường miền Nam, và sau thắng lợi của quân và dân ta ở miền Bắc trong “chiến dịch Điện Biên Phủ trên không” 12 ngày đêm ở Hà Nội, Hải Phòng, buộc đế quốc Mỹ phải quay lại ngồi vào bàn hội nghị và ký kết hiệp định Paris với ta vào ngày 27 tháng 1 năm 1973. Hội nghị Paris kéo dài gần 5 năm với trên 350 cuộc họp công khai và bí mật, Đảng ta đã rất khéo kết hợp đường lối quân sự với chính sách ngoại giao, buộc đế quốc Mỹ phải rút quân khỏi miền Nam Việt Nam. Chiến lược chiến tranh cục bộ của chúng bị thất bại hoàn toàn. Đây là thắng lợi có ý nghĩa cực kỳ quan trọng của quân và dân ta, mở ra thời cơ chiến lược mới, có lợi cho cuộc cách mạng giải phóng miền Nam.
Lúc bấy giờ nhiều người nghĩ rằng: Sau khi hiệp định Paris được ký kết, Việt Nam sẽ có hòa bình, sẽ không còn những cuộc hành quân càn quét bằng bộ binh, xe tăng của địch như trước, sẽ không phải nằm ngủ dưới hầm vì máy bay, pháo binh của chúng. Thế nhưng, trước và sau hiệp định Paris, chính quyền Nguyễn Văn Thiệu càng ngoan cố hơn, chúng mở những đợt hành quân quy mô trên cả ba vùng chiến lược, hòng thu hẹp vùng giải phóng của ta. Lúc đầu quy mô nhỏ, sau đó quy mô lớn diễn ra không gian rộng, kéo dài rất ác liệt.
Trước tình hình đó trên địa bàn 2 tỉnh Bình Định và Quảng Ngãi, sư đoàn bộ binh 2 cùng vời sư đoàn bộ binh 3 (chủ yếu trung đoàn 12), Quân khu 5, nhanh chóng đánh chiếm một số mục tiêu trên khu vực tiếp giáp giữa 2 tỉnh: Phía bắc Bình Định từ khu vực Chương Hòa đến Tam Quan; thuộc huyện Hoài Nhơn, phía nam tỉnh Quảng Ngãi, từ xã Phổ Khánh (huyện Đức Phổ) đến đèo Bình Đê phía nam Sa Huỳnh, tạo nên thế liên hoàn giữa hai tỉnh hàng chục km, có cảng biển Sa Huỳnh và Trường Xuân. Đồng thời kiên quyết bảo vệ vùng giải phóng, và những địa bàn có tính chiến lược của giai đoạn sau hiệp định Paris đối với chiến trường khu 5: đó là Hiệp Đức (Quảng Nam), Ba Tơ (Quảng Ngãi), Hoài Ân (Bình Định).
Tình hình tư tưởng lúc bấy giờ diễn biến theo hai chiều hướng. Thứ nhất, tỏ ra rất lạc quan. Vấn đề này có lý do của nó. Khi thời gian hiệp định có hiệu lực, trên chiến trường nói chung hầu như im tiếng súng. Chúng ta có quyền tận hưởng những ngày tháng thanh bình đầu tiên sau bao nhiêu năm chiến tranh gian khổ, ác liệt.
Tại các ranh giới giữa hai bên, đã ấn định những địa điểm và thời gian để đại diện hai phía gặp nhau. Nhân dân được đi lại giữa hai vùng. Đây là một thời điểm vô cùng quý giá để chúng ta có điều kiện hoàn thiện thêm về nhiều mặt, phòng ngừa phía bên kia tráo trở, phá bỏ Hiệp định.
Những người đã trải qua các giai đoạn lịch sử của đất nước, ắt hẳn đã quá hiểu bản chất của kẻ thù. Không một ai có ảo tưởng chút nào về hòa bình sau khi Hiệp định Paris ký kết.
Song, những gì đã đem lại cho chúng ta cái không khí yên bình là một thực tế hiển nhiên mà chúng ta đang tận hưởng trên chiến trường vừa mới im tiếng súng. Trong lòng người lính luôn cảm thấy lâng lâng, tựa như không khí của những ngày sau hòa bình được lập lại trên miền Bắc vào năm 1954.
Bộ đội đã bắt đầu chuyển xuống vùng đồng bằng, đóng quân trong nhà dân, xây dựng nơi ăn, ở, nơi hội họp, giao ban, bắt đầu duy trì nề nếp sinh hoạt chính quy huấn luyện sẵn sàng chiến đấu. Trong các vùng dân cư đông đúc, chợ búa, trường học đã mở trở lại. Tuy thời gian ngắn ngủi, nhưng rõ ràng là cuộc sống về vật chất cũng như tinh thần của quân và dân các nơi này được cải thiện đáng kể.
Cuộc sống nhộn nhịp ở các vùng giải phóng của ta đã có tác động nhất định đối với binh lính ngụy quyền Sài Gòn. Thời gian này chúng ta lại đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tiến công đối phương bằng công tác binh vận. Đây là một mũi tiến công sắc bén vào tinh thầu chiến đấu của lực lượng phía bên kia.
Chiều hướng thứ hai, chủ yếu là các lực lượng trực tiếp tiếp xúc với địch. Tuy rằng so với những năm trước đây, cuộc chiến đấu có “nhẹ” bớt, song không khí chiến tranh vẫn bao trùm lên trên hết. Cái yên tĩnh ở đây giống như ở vùng mắt bão, giống như khoảng lặng giữa hai đợt chiến đấu, làm cho mỗi bên cảnh giác hơn, sẵn sàng chiến đấu cao hơn.
Tại tỉnh Bình Định, địa bàn do sư đoàn bộ binh số 3, Quân khu 5 đảm nhiệm, luôn sôi động. Bọn lính bảo an, dân vệ, biệt động và cả lính Cộng hòa nống ra vùng giáp ranh xung quanh Du Tự, núi Chéo, cầu Giáo Ba, quận lỵ Hoài Ân. Ở huyện Hoài Nhơn chúng nống lên các xã Hoài Châu, Hoài Hảo, Hoài Sơn dãy cao điểm 209, khu vực tiếp giáp với tỉnh Quảng Ngãi. Tại huyện Phù Mỹ chúng nống ra các xã Mỹ Hiệp, Mỹ Trinh, Mỹ Lộc... Trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, địch cũng nống ra hầu hết vùng giáp ranh thuộc các huyện Bình Sơn, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa, Nghĩa Hành, Mộ Đức, Đức Phổ... và nhiều nơi khác.
Đánh địch nống lấn là một giai đoạn không kém phần quyết liệt. Giữa ta và địch đã có phân tuyến. Mỗi bên đều có những nỗ lực, cố gắng giữ đất, giành dân, mở rộng vùng kiểm soát.
Khác với những năm 1966 - 1967, khi quân Mỹ đổ quân ào ạt vào miền Nam, điều kiện chưa cho phép chúng ta chiến đấu để giữ đất, giành dân. Từ năm 1972, nhất là từ sau ngày hiệp định Paris được ký kết, quân ta có đủ khả năng đánh bại những cuộc hành quân càn quét, lấn chiếm địch, giữ vững và mở rộng vùng giải phóng. Lực lượng ta phát triển rộng khắp. Với thế bố trí chiến lược mới trên toàn miền, cho phép lực lượng vũ trang ta ở đâu đánh đó. Bộ đội chủ lực phối hợp với bộ đội địa phương và dân quân du kích tiến công địch khắp nơi. Địch căng ra lo đối phó trên phạm vi toàn miền, chúng vấp phải khó khăn muôn thuở là tập trung được chỗ này thì hở chỗ khác, tập trung trên tuyến tiếp xúc với ta thì các vùng ven, nông thôn và vùng rừng núi bị bỏ trống. Vì vậy ở những nơi ta có sơ hở, mất cảnh giác, chúng cho quân nống lấn sâu vào vùng kiểm soát của ta; những nơi ta đề phòng, triển khai lực lượng sẵn sàng chiến đấu thì địch dùng chiêu bài hòa hợp và gặp nhau theo định kỳ giữa hai bên. Đây là một thủ đoạn vô cùng nham hiểm của địch, nhằm “tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu” của ta.
Tại tỉnh Bình Định, nơi diễn ra những trận đánh ác liệt nhất giữa ta và địch là xung quanh núi Du Tự, huyện Hoài Ân và dọc trục đường số 2 huyện Hoài Nhơn. Hai nơi này có một vị trí hết sức quan trọng đối với hệ thống phòng thủ cơ bản của địch trên quốc lộ số 1. Mất Du Tự là mất quận Hoài Ân, làm cho hệ thống phòng thủ của địch từ đèo Phú Cũ trở vào sẽ bị rúng động. Mất trục đường số 2 sẽ mất khu thị tứ Tam Quan, cảng Sa Huỳnh và thị trấn Bồng Sơn sẽ bị uy hiếp. Trên địa bàn các nơi khác cũng tương tự như phía tây các huyện Đức Phổ, Mộ Đức, Bình Sơn, Sơn Tịnh (Quảng Ngãi) hoặc Tam Kỳ, Duy Xuyên, Thăng Bình, và huyện Hoà Vang sát thành phố Đà Nẵng.
Trên chiến trường Khu 5, đồn bót địch mọc lên như nấm sau cơn mưa. Cách mạng miền Nam đã sang trang mới. Chúng ta đã buộc được đế quốc Mỹ ký kết Hiệp định Paris, thực hiện được quyết tâm “đánh cho Mỹ cút khỏi Việt Nam”, làm thất bại hoàn toàn chiến lược “chiến tranh cục bộ” của Mỹ và tay sai. Những sư đoàn hùng mạnh nhất của Mỹ và các nước đồng minh phải cuốn cờ về nước. Tại chiến trường Liên Khu 5, sư đoàn kỵ binh bay (không vận) số 1, hai sư đoàn lính thủy đánh bộ Mỹ số 1 và 3, sư đoàn American, sư đoàn số 4 và 25 đánh vùng núi, hai Lữ đoàn dù Mỹ, sư đoàn Mãnh Hổ, Rồng Xanh, Bạch Mã Nam Triều Tiên và nhiều đơn vị thiện chiến khác của Mỹ và đồng minh lần lượt rút khỏi nước ta. Đây là thắng lợi vĩ đại của cả dân tộc, của đường lối chiến lược quân sự Việt Nam, là thắng lợi của tình đoàn kết chiến đấu chống kẻ thù chung là đế quốc Mỹ của nhân dân ba nước Đông Dương và là thắng lợi của phe Xã hội Chủ nghĩa và của loài người tiến bộ.
Như vậy là tình hình trên chiến trường sau khi Hiệp định Paris được ký kết, đã tạo ra hai vùng một cách rõ rệt, có ranh giới rõ rệt. Tuy nhiên, cái ranh giới đó có chỗ “lồi”, có nơi “lõm” do kết quả tạo nên của mỗi bên trước ngày Hiệp định Paris có hiệu lực. Nhưng nhìn chưng, trên chiến trường vùng đồng bằng khu 5, quân ta đã áp sát đường quốc lộ số 1, uy hiếp các mục tiêu then chốt của địch, như sân bay, thị trấn, thị xã, và các căn cứ quân sự. Theo quy luật của chiến tranh, đến một lúc nào đó, địch buộc phải tập trung, co cụm để bảo vệ các thị xã, thị trấn; tạo cho ta thời cơ để tiến hành những trận đánh tập trung tiêu diệt lớn sinh lực địch trong căn cứ hoặc khi ra phản kích giải tỏa, phá vỡ hệ thống phòng thủ cơ bản của chúng, làm thay đổi cục diện trên chiến trường có lợi cho ta.
Trước tình hình diễn biến có lợi và mau lẹ trên chiến trường, bước sang năm 1973, ta mở đợt hoạt động đánh địch nống lấn, trước và sau hiệp định Paris, nhằm mở rộng, củng cố và giữ vững vùng giải phóng, tiến tới thực hiện quyết tâm cuối cùng “đánh cho ngụy nhào” giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Thời cơ chiến lược vô cùng quan trọng trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc của quân và dân ta đã đến.
Vì vậy, đầu năm 1973 sư đoàn 3 được tăng cường trung đoàn bộ binh số 141, và cũng từ đây về sau, trung đoàn bộ binh 141 thuộc biên chế chính thức của sư đoàn. Trước mắt, sư đoàn nhanh chóng đánh chiếm các điểm cao xung quanh quận lỵ Hoài Ân, điểm cao 174 phía Nam sông Lại Giang, đồng thời áp sát sân bay Thiết Đính, thị trấn Bồng Sơn, bao vây, cô lập quận lỵ Hoài Ân, buộc quân chủ lực Sài Gòn bung ra phản kích để ta có điều kiện tiêu diệt lớn sinh lực của chúng. Đây là một chủ trương rất sáng suốt và kịp thời của Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu 5.
Trung đoàn bộ binh số 12 từ phía nam tỉnh Bình Định, đường số 19 cũng cơ động về huyện Hoài Nhơn. Tiểu đoàn 6 chúng tôi cũng được lệnh cơ động từ phía nam đường 19 về huyện Hoài Ân. Chỉ có trung đoàn bộ binh số 2, chủ công của sư đoàn, đang giấu mình ở huyện Hoài Ân sẵn sàng ra tay, đánh những trận quyết định, tiêu diệt lớn quân địch.
Một vấn đề đặt ra được nghiên cứu, bàn luận ở sư đoàn Bộ binh 3 và cơ quan Quân khu là: Binh lính Mỹ rút khỏi miền Nam, trên chiến trường chỉ còn lính Sài Gòn. Đó là thời cơ chiến lược cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, đánh đổ chính quyền tay sai. Nhưng thời cơ để ta giải phóng từng vùng, từng tỉnh và thành phố phải trên cơ sở tiêu diệt lớn sinh lực, làm tan rã về tổ chức của những đội quân chủ lực của chúng. Về tương quan lực lượng trên chiến trường, liệu áp lực của quân ta có đủ sức để buộc quân chủ lực địch ra phản kích, tạo thời cơ cho ta tiêu diệt lớn sinh lực chúng? Đây là vấn đề thuộc về nghệ thuật chiến dịch, buộc địch phải hành động theo ý định của ta, trong điều kiện ta đã đủ mạnh.
Tại quận lỵ Hoài Ân, trung đoàn bộ binh 141, do đồng chí Cảo, trung đoàn trưởng chỉ huy, là trung đoàn mới chuyển về từ stư đoàn bộ binh số 2, quân khu 5, và tiểu đoàn 6 trung đoàn bộ binh 12, tiến hành đánh chiếm cao điểm 305 phía đông nam Du Tự, và một loạt các cao điểm khác. Ở phía đông ta đánh chiếm cao điểm 174 chia cắt chúng ở cầu Vợi, trên đường quốc lộ số 1. Quận lỵ Hoài Ân nằm dưới tầm hỏa pháo của quân ta, bị cô lập hoàn toàn. Muốn tồn tại, địch phải tiến hành phản kích. Hoặc là bỏ huyện lỵ Hoài Ân. Điều này đồng nghĩa với việc sư đoàn số 3 của ta sẽ tràn qua đường quốc lộ số 1 chia cắt Phù Mỹ, Phù Cát, Hoài Nhơn. Và như vậy, hệ thống phòng thủ của địch tại tỉnh Bình Định sẽ nhanh chóng bị phá vỡ.
Trực tiếp chi viện cho quận lỵ Hoài Ân là căn cứ Gò Loi, một căn cứ vững chắc nhất tại đây đã bị quân ta chia cắt, vây ép. Bắt buộc sư đoàn 22 chủ lực Sài Gòn phải ra phản kích để cứu vãn tình thế. Tình hình trên các chiến trường tại các tỉnh thuộc Khu 5 cũng ở trong trạng thái như vậy.
Tháng 3-1973, trước yêu cầu nhiệm vụ chiến đấu, theo đề nghị của sư đoàn 3, Quân khu 5 quyết định bổ nhiệm tôi làm tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 6 thuộc trung đoàn bộ binh 12, chính trị viên là đồng chí Trần Sỹ Mỹ. Anh Trần Hữu Biền, chính trị viên tiểu đoàn lên cơ quan chính trị trung đoàn 12, anh Lê Hoài, tiểu đoàn trưởng đi nhận công tác khác.
Hơn một năm trước đây, tôi chia tay với anh em tiểu đoàn ở phía Nam đường số 19 trong tình hình chiến dịch mùa xuân năm 1972 vừa mở màn với hy vọng sẽ có ngày được gặp lại. Sau hơn một năm học tập ở trường Quân chính Quân khu 5, tôi đã tiếp thu được nhiều kiến thức cần thiết và bổ ích. Hôm được quay về với đội ngũ để tiếp tục chiến đấu, tôi cảm thấy ước mơ của mình đã được toại nguyện, nên rất phấn khởi.
Về với trung đoàn bộ binh 12, được gặp lại những đồng chí, đồng đội thân thương, những chiến sĩ gái trai của quê hương Bình Định rất đỗi thân quen đã cùng nhau chia ngọt, xẻ bùi trên chiến trường đường số 19, lòng tôi vô cùng xúc động. Tôi nhớ tới các đồng chí nữ như: Trương Thị Sen, Trần Thị Hướng, Mai Thị Trọng, Huỳnh Thị Tâm, Nguyễn Thị Hảo và biết bao nữ đồng chí khác đã hy sinh cả tuổi xuân của mình, theo sát trung đoàn trên khắp chiến trường. Tình cảm đồng chí, anh em trong cuộc đấu tranh này đã để lại trong tôi những dấu ấn khó quên, những tình cảm mến yêu, trân trọng. Gặp nhau, tôi nghĩ thầm: “Không biết ngày mai, khi chiến tranh kết thúc, cuộc đời họ sẽ thế nào? Liệu họ có thể sống được cho đến cái ngày cuối cùng của chiến tranh?”.
Tôi về đến huyện Hoài Ân cũng là lúc tiểu đoàn 6 vừa cơ động từ phía nam đường số 19 sang. Tôi cùng với Ban chỉ huy tiểu đoàn bắt tay vào công tác triển khai nhiệm vụ. Tình hình xung quanh huyện lỵ Hoài Ân lúc này rất sôi động, tiểu đoàn 6 được giao nhiệm vụ xây dựng cụm điểm tựa trên dãy cao điểm 305, đông nam quận lỵ Hoài Ân.
Các đơn vị xây dựng công sự trận địa vững chắc và đưa các loại hỏa lực lên điểm cao. Địch đóng ở đồi Du Tự nằm dưới tầm hỏa lực của ta. Dưới sự chi viện tối đa của máy bay, pháo binh, địch đã tiến hành phản kích quyết liệt, quyết đẩy lực lượng của ta khỏi những cao điểm bao quanh chi khu quận lỵ Hoài Ân. Cuộc chiến đấu diễn ra vô cùng ác liệt. Trên các ngọn đồi xung quanh quận lỵ Hoài Ân không còn một gốc cây, ngọn cỏ. Toàn bộ được phủ lên một lớp đất bột lội đến mắt cá chân. Bom, pháo dội xuống liên tục. Giữa các đợt bắn phá, bộ binh địch lại nối nhau lên phản kích. Ta với địch giành giật nhau từng mỏm đồi.
Qua kinh nghiệm của những năm trực tiếp chiến đấu với lính bộ binh Mỹ, tại đây bộ đội ta đã áp dụng chiến thuật “vận động tiến công kết hợp chốt”. Trên các điểm cao, lực lượng chốt của ta được bố trí rất ít nhưng tinh. Dựa vào công sự vững chắc, tiêu diệt địch trước trận địa; kết hợp với lực lượng cơ động đẩy lùi nhiều đợt phản kích của địch.
Trung đoàn bộ binh 141 được tăng cường tiểu đoàn 6 làm nhiệm vụ chốt giữ trên các điểm cao. Trung đoàn bộ binh 2 là lực lượng cơ động đánh những trận tiêu diệt cả chiến đoàn địch ra phản kích. Nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật của sư đoàn 3 đã thành công tại huyện Hoài Ân. Đó là bằng mọi cách điều được quân chủ lực Sài Gòn thoát ra khỏi căn cứ đi vào những trận địa đã được ta chuẩn bị sẵn để tiêu diệt lớn sinh lực của chúng. Quận Hoài Ân là nơi được ta giải phóng hoàn toàn và đầu tiên của tỉnh Bình Định. Sư đoàn Bộ binh 3 thọc thẳng xuống đường số 1. Có đơn vị xuống đến xã Mỹ Thọ, Mỹ Thắng huyện Phù Mỹ, sát với biển.
Tại huyện Hoài Nhơn, một huyện đồng bằng thuộc tỉnh Bình Định, nơi nổi tiếng về những rừng dừa bát ngát, những cánh đồng lúa tốt phì nhiêu. Tuy bị địch kìm kẹp trong những năm chiến tranh, nhưng lại là nơi có phong trào du kích lên mạnh, có những “kho” lương thực cung cấp cho bộ đội trong những năm tháng ngặt nghèo nhất. Đến xã Hoài Châu, huyện Hoài Nhơn, dọc theo những cồn cát trắng xóa chạy dài vào đến xã Hoài Hảo là những “kho” lương thực, thực phẩm đủ cung cấp 2 - 3 tiểu đoàn nhận một lúc. Nhân dân từ trong các ấp chiến lược thu mua nào gạo, nào đường, sữa, đồ hộp, thuốc men... gom góp lại, ngụy trang, đi qua những trạm kiểm soát của địch, đưa lên chôn giấu dưới những cồn cát để hàng đêm bộ đội từ trên căn cứ xuống nhận. Đúng như lời Bác Hồ đã dạy:
khó vạn lần dân liệu cũng xong!
Trên trục đường số 2, từ sau ngày ký Hiệp định Paris, địch đưa 2 liên đoàn biệt động số 4 và số 6 cùng với lực lượng bảo an, dân vệ đóng chốt trên một tuyến dài 4 - 5 km từ thôn Bình Đê đến thôn An Quý, xã Hoài Châu; thôn Cự Tài, xã Hoài Hảo... thiết lập một phòng tuyến ngăn chặn không cho quân ta tiến xuống quốc lộ số 1. Ở phía bắc tỉnh Bình Định chúng cho quân chiếm đồi 9, đồi 10, dãy cao điểm 209 (nơi tiếp giáp giữa hai tỉnh Bình Định - Quảng Ngãi). Mỗi nơi, một đại đội lính biệt động hoặc bảo an trấn giữ.
Sau khi quận lỵ Hoài Ân được giải phóng, tiểu đoàn 6 được lệnh rời khỏi trung đoàn bộ binh số 141 về đội hình trung đoàn bộ binh 12 chiến đấu trên địa bàn phía tây huyện Hoài Nhơn (trên trục đường số 2 thuộc hai xã Hoài Châu và Hoài Hảo).
Đội hình trung đoàn 12 lúc này do trung đoàn trưởng Lê Văn Thái chỉ huy, chính ủy là đồng chí Trần Hữu Biền, được bố trí thành “khu vực phòng ngự” tại ba xã phía tây Bắc huyện Hoài Nhơn. Hai tiểu đoàn phòng ngự phía trước, đối đầu với hai liên đoàn biệt động và nhiều đại đội bảo an, dân vệ; tiểu đoàn 4 đứng tại khu vực Bình Đê, nhà thờ Quy Thuận, đối diện với mục tiêu Đồi 9, Đồi 10, phía tây thị tứ Tam Quan. Tiểu đoàn 6 được bố trí cuối xã Hoài Châu, giáp với xã Hoài Hảo, đối diện với hai đại đội biệt động đóng chốt ở thôn An Quý và Cự Tài. Tiểu đoàn 5 là lực lượng cơ động của trung đoàn, bố trí đầu đường số 3, đường này chạy song song với đường số 2. Sở chỉ huy trung đoàn đứng ở nơi tiếp giáp xã Hoài Châu và Hoài Sơn. Lúc bấy giờ, giữa vùng đồng bằng và giáp ranh, bố trí đội hình một trung đoàn theo nguyên tắc “hai trước, một sau” trong chiến đấu phòng ngự là rất lý tưởng. Có nhiều ý kiến cho rằng, trong tư tưởng chỉ đạo tác chiến của ta không có khái niệm “phòng ngự”? Trên chiến trường lại càng không có “hành động phòng ngự”. Điều đó không thể phủ nhận. Tuy nhiên, chúng ta không phòng ngự một cách đơn thuần, thụ động, mà phải thể hiện được tư tưởng tiến công trong chiến đấu phòng ngự. Trong đơn vị chiến thuật hoặc chiến dịch, có lực lượng lợi dụng vào hệ thống công sự, vật cản kết hợp với hệ thống hỏa lực để tiêu diệt địch trước trận địa, đồng thời có lực lượng cơ động tiến công vào bên sườn và phía sau đội hình địch để tiêu diệt chúng. Trong cuộc chiến tranh này chúng ta thường áp dụng chiến thuật “vận động tiến công kết hợp chốt”. Trong thành phần chiến thuật, có lực lượng “phòng ngự” (chốt), có lực lượng tiến công. Lực lượng tiến công thường chiếm ưu thế về nhiều mặt.
Chiến thuật “vận động tiến công kết hợp chốt” đã tỏ ra có hiệu quả, và đã được chứng minh trong thực tế chiến đấu trên chiến trường.
Trong thời điểm sau Hiệp định Paris, chúng ta có một thời gian ngắn dừng lại để củng cố về mọi mặt, chỉ tiến công địch bằng công tác “địch vận”.
Việc trung đoàn bộ binh 12 bố trí đội hình như đã nói ở trên là hoàn loàn phù hợp với tình hình và nhiệm vụ địa bàn ở phía Tây huyện Hoài Nhơn. Với thiện chí ta không chủ động tiến công đối phương sau khi Hiệp định Paris có hiệu lực, nhưng không để bị động khi đối phương tiến công ta.
Cuộc chiến đấu tại huyện Hoài Nhơn, sau ngày ký Hiệp định Paris không kém phần ác liệt. Chứng tỏ, kẻ thù vô cùng ngoan cố. Đúng như câu dân gian ta thường nói: “Cà cuống chết đến đít vẫn còn cay”, đó cũng là bản chất của kẻ thù. Câu thơ sau đây, do địch rải truyền đơn xuống xã Hoài Châu đã nói lên tính chất quyết liệt của cuộc chiến đấu giành và giữ đất giữa ta và địch:
Chết hai, còn một, vẫn ra Đồi Mười!
Đồi Mười là ngọn đồi ở xã Hoài Châu, giáp với thị tứ Tam Quan, nằm cạnh Đồi 9, có địa thế rất hiểm yếu, quyết định sự tồn tại của khu thị tứ Tam Quan của địch. Nếu chiếm được Đồi 10 sẽ khống chế được Tam Quan và đường quốc lộ số 1. Đồng thời sẽ phá vỡ được hệ thống phòng ngự của địch dọc trục đường số 2. Vì vậy, ở đây, cuộc chiến đấu quyết liệt diễn ra hàng ngày giữa ta và địch. Nhà thờ Quy Thuận là một công trình đồ sộ, có tháp chuông cao ngất, nằm ở phía tây Đồi 10 đã bị bom pháo địch san bằng. Địch đã dùng xe tăng mở nhiều đợt tấn công vào đây, nhưng bị đánh bật ra, phải tháo lui. Ngày nay, dấu vết của nhà thờ Quy Thuận chỉ còn trơ lại những trụ bê tông, nhô lên khỏi mặt đất 2 đến 3 tấc.
Xã Hoài Châu được tuyên dương là xã Anh hùng cũng xuất phát từ những trận chiến đấu kiên cường ở đây suốt hàng chục năm. Trong các trận đánh, nhân dân sát cánh cùng bộ đội chiến đấu bảo vệ làng mạc, ruộng đồng suốt những năm tháng ác liệt nhất của chiến trường Khu 5, với khẩu hiệu nổi tiếng “Một tấc không đi, một ly không rời!”. Hình ảnh những người mẹ, ngườì chị xã Hoài Châu cùng với đội quân tóc dài, chặn đầu xe tăng giặc, những tiểu đội du kích sát cánh với bộ đội chủ lực chiến đấu bảo vệ ruộng đồng, làng mạc; chị Hai Nhạn, xã Hoài Châu dành những giọt sữa của con thơ để tiếp sức cho thương binh; những đêm dưới tầm pháo địch, nhân dân ở đây đào hầm, tiếp tế, tải thương giúp bộ đội và còn nhiều hình ảnh đẹp đẽ, cảm động, luôn in đậm nét trong ký ức người lính sư đoàn 3 Sao Vàng.
Để góp phần cùng quân và dân đánh bại âm mưu nống lấn của địch, giữ vững và phát triển thực lực cách mạng ở các vùng giải phóng; ngay từ đầu 1973, trên chiến trường Khu 5, hầu hết các đơn vị chủ lực đã tràn xuống đồng bằng, phối hợp cùng với bộ đội địa phương và dân quân du kích, đánh chiếm các đồn bót địch mới được thiết lập từ sau ngày ký kết Hiệp định Paris, xóa bỏ các “vết da báo”, mở rộng vùng giải phóng.
Tiểu đoàn 6 được giao nhiệm vụ xóa sổ hai đại đội địch nống lên đóng chốt tại thôn An Quý, xã Hoài Châu và thôn Cự Tài, xã Hoài Hảo. Hai căn cứ này nằm về phía đông trục đường số 2. Tiểu đoàn 4 tiêu diệt một đại đội địch nống lên đóng chốt tại phía đông nhà thờ Quy Thuận, phía tây Đồi 10.
Trước ngày hiệp định Paris có hiệu lực, địch cho một đại đội biệt động quân, thuộc Liên đoàn Biệt động số 6, càn quét lên trục đường số 2, đóng chốt lại ở thôn Cự Tài, xã Hoài Hảo, thuộc huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định. Chúng đóng trên một gò đất, mỗi bề rộng khoảng 200 - 250 mét. Ba mặt Bắc - Đông - Nam là ruộng bao bọc. Phía tây giáp với làng mạc. Dân ở đây đã bị dồn vào ấp chiến lược từ lâu. Gò đất, cao hơn mặt ruộng khoảng 1 mét, chúng ủi đất, đắp thành bờ bao như chiếc vành khăn. Trên bờ đất là các lô cốt bằng bao cát và các ụ súng. Trung tâm bót địch như cái lòng chảo, có các chiến hào chạy ra tiền duyên. Bên ngoài bờ bao là 3 lớp rào kẽm gai kết hợp với mìn sát thương bộ binh.
Trung đoàn trưởng trung đoàn bộ binh 12 Lê Văn Thái, trực tiếp giao nhiệm vụ cho tiểu đoàn 6: “bằng bất kỳ giá nào cũng “nhổ” bằng được mục tiêu này!”.
Đêm 22 tháng 5, tôi tổ chức một bộ phận cán bộ và trinh sát đi điều nghiên, được du kích xã dẫn đường, băng qua làng mạc không người, tiếp cận mục tiêu. Cũng như các cứ điểm khác, ban đêm trong mục tiêu không một tiếng động. Địch ở đây rất cảnh giác, đề phòng. Chúng tôi tiềm nhập trên hai hướng: Hướng tây tiếp giáp với làng mạc ăn ra đến đường số 2, nên địch đề phòng nhiều nhất. Hướng này chúng tôi dự kiến là hướng tiến công thứ yếu. Hướng bắc, phải vượt qua một khoảng ruộng khô, khoảng 50 mét sẽ đến lớp rào đầu tiên. Chúng tôi chọn hướng này là hướng chủ yếu. Tuy phải vượt qua ruộng, nhưng đội hình có thể tiếp cận một hàng dọc, men theo bờ ruộng, bảo đảm bí mật được.
Các cán bộ đang ngồi quan sát, thì một đồng chí trinh sát cảnh giới bị vướng quả mìn chiếu sáng. Ánh lửa bùng lên, chúng tôi nằm rạp xuống đất. Địch trong bót bắn ra như vãi đạn. Mười, mười lăm phút sau súng im bặt, chúng tôi lùi dần ra ngoài. May mắn không có thương vong. Ngày 23 và 24 tháng 5, chúng tôi gài trinh sát và du kích bám sát, theo dõi diễn biến của địch. Tiểu đoàn tiến hành làm công tác tổ chức, chuẩn bị. Trong cuộc họp đảng ủy mở rộng sáng 23 tháng 5, sau khi phân tích đánh giá tình hình, chúng tôi thấy rằng:
Về phía địch: Do bị tiến công liên tục trên chiến trường, mất chỗ dựa vào sự chi viện của binh lính Mỹ, nên trong các cứ điểm, địch tăng cường mức độ công sự chắc chắn hơn. Cụ thể ở cứ điểm Cự Tài, chúng có lợi thế, dựa vào bờ bao, lô cốt, ụ súng để chống trả lực lượng tiến công của ta, trong khi ta hoàn toàn ở trên mặt đất. Tuy nhiên, trung tâm cứ điểm địch có nhiều u bất lợi, nếu ta bám vào được bờ bao thì địch hoàn toàn nằm dưới tầm hỏa lực của ta. Chướng ngại vật tuy có ba lớp rào và mìn xen kẽ, nhưng hàng rào ở đây còn đơn giản, chiều sâu ngắn, khoảng 10 - 15 mét, nếu bí mật tiếp cận và chế áp hỏa lực trước cửa mở tốt, ta có khả năng khắc phục nhanh chóng. Đặc biệt, từ khi Mỹ rút quân, tinh thần binh lính địch dao động mạnh, sức chiến đấu sa sút. Khi có nguy cơ bị tiêu diệt, có khả năng chúng sẽ tháo chạy hoặc đầu hàng.
Về tình hình của tiểu đoàn 6: Trải qua những năm chiến đấu trên chiến trường, tiểu đoàn luôn luôn giáp mặt với mọi đối tượng, từ lính bộ binh, xe tăng Mỹ, đến lính Nam Triều Tiên; chiến đấu với địch bằng nhiều hình thức: đánh tập kích, đánh vận động, đánh cầu có địch canh giữ, đánh phục kích giao thông trên những địa bàn vô cùng gian khổ và ác liệt, đều hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Tiểu đoàn đã có một bề dày lịch sử oanh liệt như đã nói ở những phần trên. Cán bộ chiến sĩ đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm, được trưởng thành trong thực tế chiến đấu. Tiểu đoàn 6 không những là lá cờ đầu của trung đoàn bộ binh 12 mà còn là ngọn cờ tiêu biểu của sư đoàn bộ binh số 3.
Về phương án chiến đấu, sau khi cân nhắc, chúng tôi quyết định: hướng đột kích chủ yếu từ hướng bắc. Lực lượng sử dụng một đại đội. Hướng thứ yếu, không đột kích từ phía tây mà chuyển lực lượng trên hướng này xuống đón lõng ở hướng đông. Với lý do trên hướng này ta mới phát hiện có con đường từ trong cứ điểm địch chạy xuống. Khi bị tiến công mạnh, có thể chúng sẽ tháo chạy theo hướng này. Phía tây chỉ triển khai trận địa cối 82 và 120mm.
Quyết tâm và kế hoạch chiến đấu, nhanh chóng được trung đoàn chuẩn y và được đem ra “Đại hội quân nhân” thảo luận.
Cũng như những trận tiến công vào căn cứ địch trước đây, trong trận này, chúng tôi tổ chức một tiểu đội mở đường qua các chướng ngại vật, được trang bị mìn định hướng ĐH10 và bộc phá ống. Ngoài hỏa lực chi viện chung, hai bên cửa mở bố trí hai khẩu pháo không giật ĐKZ75, ĐKZ82 và súng máy 12,7 mm để tiêu diệt lô cốt đầu cầu và chế áp các hỏa điểm, trực tiếp chi viện cho lực lượng mở cửa bằng “bộc phá liên tục”.
Đêm 24 tháng 5, trời không trăng, nhưng sao lấp lánh. Chúng tôi tổ chức một tổ trinh sát và một tổ thông tin đi trước, rải “lộ tiêu” 1, cho đội hình tiểu đoàn theo sau vào tiếp cận.
23 giờ, các trận địa hỏa lực đã triển khai xong. Lực lượng mở cửa đã đưa được mìn định hướng vào ngay sát hàng rào ngoài cùng. Lực lượng đánh “bộc phá liên tục” nằm một hàng dọc ép sát bờ ruộng. Trong cứ điểm im phăng phắc. Địch đã bí mật rút đi rồi chăng? - Tôi tự hỏi - Bỗng ở trên bờ bao có tiếng lính đập muỗi, rồi một ánh lửa lóe lên. Lính gác hút thuốc! Tôi yên tâm. Đến đây, trận đánh coi như đã thắng lợi được một nửa.
Đồng chí liên lạc đã “moi” cho tôi một công sự tròn như cái miệng thúng, sâu hơn một mét, vừa đủ cho một người ngồi, gần khẩu ĐKZ75. Phía sau tôi, đồng chí chiến sĩ thông tin còn rất trẻ mang máy bộ đàm cũng đang hì hục moi đất làm công sự. Nhìn anh em làm việc miệt mài, lòng tôi vô cùng thương cảm. Cảm ơn những bà mẹ đã sản sinh ra những người con tận trung với Đảng, tận hiếu với dân, không quản ngại hy sinh gian khổ. Ai có thể biết được, trong đêm nay sẽ có những người phải ngã xuống trước làn đạn của kẻ thù để cho thế hệ mai sau mãi mãi sống trong hoà bình?
Đúng 24 giờ, tôi ra lệnh nổ súng.
Cùng lúc với tiếng nổ của quả mìn định hướng 10 kg xé nát màn đêm, hai khẩu ĐKZ bắn sập ngay lô cốt đầu cầu. Tiếp đến là các loại hỏa lực bắn thẳng, hỏa lực cầu vồng rót vào bót địch. Ánh chớp lóe lên trong màn đêm, tiếng nổ ầm ầm không ngớt, vang lên cả một vùng...
Lực lượng mở cửa, ôm bộc phá lao lên, phá nốt hai lớp rào còn lại. Một đồng chí bộc phá viên bị thương đứt một chân khi lao lên lô cốt đầu cầu do trúng mảnh đạn ĐKZ của ta...
Bộ đội ào ạt xông lên bám vào bờ bao. Địch hoàn toàn bị tê liệt. Lực lượng xung kích của ta nhanh chóng phát triển sang hai bên và thọc sâu vào trung tâm đồn địch. Phần lớn địch bị tiêu diệt. Số còn lại theo đường mòn tháo chạy xuống phía đông, bị lực lượng đón lõng của ta bao vây, tiêu diệt nốt... Đơn vị làm chủ hoàn toàn trận địa. Pháo địch bắn xung quanh, nhất là hướng tây, nơi trước đây dự kiến hướng thứ yếu của trận đánh.
Hiểu rõ bản chất thâm độc của địch, khi đã hoàn toàn mất trận địa, chúng có thể dùng máy bay, pháo binh bắn thẳng vào đồn để hủy diệt. Sau khi đã thu dọn xong, tôi ra lệnh cho bộ đội nhanh chóng rời trận địa.
Vừa ra đến đường số 2 khoảng 1 km, tôi được tin đồng chí Hoàng Công Nghiêm, đại đội trưởng bị hy sinh trong trận địa. Anh em đã khiêng xác đồng chí ra vị trí khẩu ĐKZ75 trước cửa mở và chôn vội đồng chí xuống công sự đặt súng máy 12,7 mm. Tôi bàng hoàng cả người. Không chần chừ, tôi kéo theo đồng chí trợ lý chính trị tiểu đoàn và một tổ vận tải, vượt qua làn đạn pháo địch chạy vội trở lại moi đất đem xác đồng chí Nghiêm ra.
Đồng chí Hoàng Công Nghiêm, là người con của quê hương xứ Nghệ, vừa mới đi học về, được bổ nhiệm làm đại đội trưởng. Đồng chí chỉ huy đại đội đột kích vào bót địch, chiến đấu gan dạ, tác phong nhanh nhẹn và đầy trách nhiệm đối với nhiệm vụ được giao.
Để khôi phục lại tuyến ngăn chặn trên trục đường số 2, sau khi ta đánh chiếm cứ điểm Cự Tài, ngay sáng hôm sau, ngày 25-5, liên đoàn biệt động số 6 của địch tung lực lượng lên giải tỏa chiếm lại. Điều đó nói lên rằng: sau khi quân Mỹ rút đi, cuộc chiến đấu trên chiến trường tuy có giảm đáng kể về quy mô, nhưng tính chất của nó vẫn còn rất quyết liệt. Cuộc chiến đấu giữa ta và địch không thể giải quyết trong một sớm, một chiều.
Trưa ngày 25-5, đồng chí trung đoàn trưởng trung đoàn 12 gửi cho tôi bức điện:
Gửi tiểu đoàn 6:
Nhanh chóng ổn định đơn vị về mọi mặt, sẵn sàng nhận nhiệm vụ mới. 11 giờ 30 trưa nay, tôi xuống làm việc cụ thể.
Lai Văn Thế2.
Quyết tâm đánh thiệt hại nặng liên đoàn biệt động số 6 của địch, tiểu đoàn 6 được giao nhiệm vụ tập kích tiếp cứ điểm Cự Tài trong đêm 25 rạng sáng 26-5, lúc địch vừa chiếm lại.
Chúng tôi thấy, tuy tiểu đoàn vừa mới đánh chiếm cứ điểm này đêm 24-5, bộ đội có một số thương vong, vật chất trang bị chưa bổ sung kịp; nhưng đây là thời cơ tốt nhất - địch vừa mới lên chiếm lại chưa được một ngày, công sự, vật cản chưa được khôi phục, tinh thần binh lính còn hoang mang, dao động.
Đối với bộ đội ta, khí thế đang lên. Sau thắng lợi vừa qua, anh em rất phấn khởi và thông thạo địa hình. Tiểu đoàn hạ quyết tâm với Thường vụ Đảng ủy và Chỉ huy Trung đoàn là sẽ hoàn thành nhiệm vụ.
14 giờ cùng ngày, tôi phái ngay một tổ trinh sát đi bám địch. Đồng thời gấp rút chuẩn bị hành quân. Kế hoạch tiến công lần này, về phương án cơ bản như lần trước. Theo nhận định của chúng tôi, địch chưa thể khôi phục lại cửa mở, có chăng chỉ gài được một ít quả mìn. Vả lại chúng cũng không thể ngờ được quân ta sẽ tiến công tiếp trong đêm nay. Do đó, đối với ta vẫn còn yếu tố bất ngờ.
18 giờ, bộ đội đã tập kết ở trục đường số 2 xã Hoài Châu, tiếp giáp với xã Hoài Hảo. Trong khi đang chờ trinh sát về báo cáo, cán bộ các đại đội tranh thủ hội ý, kiểm tra lại trang bị và nhắc lại công tác hiệp đồng với bộ đội.
20 giờ vẫn chưa thấy trinh sát về báo cáo. Sốt ruột quá. Xung quanh tôi, bộ đội thì thầm bàn tán. Pháo địch thỉnh thoảng bắn từng loạt lên trục đường số 2, tiếng nổ nghe rất gần. Có tiếng quát tháo của một cán bộ nào đó khi nghe chiến sĩ của mình nói chuyện lớn tiếng một chút.
Bỗng 2 đồng chí trinh sát lôi về hai tên lính biệt động mặc quần áo rằn ri. Đồng chí tổ trưởng trinh sát dẫn hai tên lính địch đến ngay chỗ tôi:
- Báo cáo thủ trưởng! Bọn em bắt được hai thằng này! Chúng em vừa mới bám vào một căn hầm trong vườn của dân đã bỏ đi, thì hắn từ dưới hầm chui lên. Chúng em chĩa súng vào hắn và nói nhỏ: “Giơ tay lên, chống cự, tao bắn!”. Chúng nó ngoan ngoãn làm theo. Chúng em tước súng và hỏi: “Dưới hầm còn có ai nữa không?”, chúng nó lắc đầu và xin tha tội chết!
Chúng tôi khai thác ngay hai tên tù binh. Chúng khai: “Đại đội tôi được lệnh lên chiếm lại cứ điểm Cự Tài, bị các ông đánh chiếm tối hôm qua. Sau khi giải quyết đem số bị chết về, chúng tôi phân tán vào trong làng, dựa vào hầm hào của dân để ẩn nấp thì bị các ông bắt!”.
Trong cứ điểm Cự Tài hiện có bao nhiêu lực lượng? - Tôi hỏi.
- Dạ! ở trỏng có rất ít, hầu hết phân tán ra xung quanh, trong làng đề phòng các ông pháo kích, hoặc đánh chiếm lại!
Nếu ngay bây giờ chúng tôi tấn công cứ điểm Cự Tài, thì đột kích vào hướng nào là tốt nhất? - Tôi hỏi tiếp.
Tên tù binh trả lời:
- Ở trong cứ điểm rất ít người, chỉ có một tiểu đội. Còn toàn bộ đều nằm bên ngoài. Nếu chỉ huy tôi biết tôi mất tích, thì có thể họ sẽ rút hết về dưới đường số 1 trong đêm nay!
Thấy tên tù binh nói có lý và có vẻ thật thà, tôi điện báo cáo trung đoàn trưởng, và đề xuất ý kiến: đêm nay ta chưa tiến công vội. Ngày mai sẽ nắm tình hình, quyết định sau.
Trung đoàn trưởng nhất trí.
Phải nói rằng, phân đội trinh sát của tiểu đoàn 6 do đồng chí tiểu đội trưởng Lê Anh Kiên chỉ huy, có những chiến sĩ thật tuyệt vời. Họ không chỉ thể hiện ý chí dũng cảm, bình tĩnh, trong trường hợp diễn ra đêm nay, mà cả quá trình chiến đấu trên trục đường 19 và nhiều nơi khác. Họ thực sự là tai, mắt của người chỉ huy. Họ là những người thường xuyên mặt giáp mặt với kẻ thù, thường xuyên xa đơn vị, độc lập xử trí nhiều tình huống gay cấn, nguy hiểm.
Tôi thầm nghĩ: “Nếu không bắt được hai tên tù binh này, đêm nay, khi tiến công vào cứ điểm Cự Tài thì không biết sự thể sẽ ra sao?”.
Lo sợ bị ta tiến công, nhất là sau khi biết được hai tên lính biệt động bị “mất tích”, địch không dám đóng tại Cự Tài nữa. Ban ngày chúng lên càn quét, chốt lại; ban đêm rút xuống đường quốc lộ số 1.
Như vậy, trên tuyến ngăn chặn ở trục đường số 2, địch đã bị xóa sổ hai cứ điểm là Cự Tài và Quy Thuận. Tiểu đoàn 6 xóa sổ cứ điểm Cự Tài. Tiểu đoàn 4 xóa sổ cứ điểm Quy Thuận. Trên tuyến này chỉ còn lại cứ điểm của một đại đội địch, đóng ở thôn An Quý, thuộc xã Hoài Châu, nằm ở đoạn giữa hai cứ điểm trên.
Trung đoàn trưởng trung đoàn 12 giao cho tiểu đoàn 6 nhiệm vụ tiêu diệt cứ điểm này. Tiểu đoàn 6 nhận lệnh trước hết, vì cứ điểm An Quý nằm trong phạm vi đảm nhiệm của tiểu đoàn, thứ đến là trung đoàn tin tưởng tiểu đoàn 6 sẽ hoàn thành được nhiệm vụ.
Khác với cứ điểm Cự Tài, cứ điểm địch đóng ở thôn An Quý hoàn toàn nằm trong làng mạc. Bốn phía là vườn tược đã bỏ hoang, vì nhân dân ở đây đã bị địch dồn vào thị trấn Bồng Sơn, và các ấp chiến lược. Cây cối trong làng bị chất độc hóa học giết chết. Chỉ còn cỏ tranh và lau lách, lớp này chết, lớp khác lại mọc lên, tốt hơn. Ở đây phong trào du kích phát triển mạnh. Chúng tôi được anh chị em du kích dẫn đường vào sát hàng rào dây thép gai. Cứ điểm địch có 3 lớp rào và mìn sát thương bộ binh bao bọc. Lác đác trong khu vườn vẫn còn một số công sự hầm kèo1 của nhân dân, có thể còn sử dụng được.
Phạm vi cứ điểm An Quý cũng gần bằng cứ điểm Cự Tài. Nhưng các lô cốt, ụ súng tiền duyên rất khó phát hiện, vì địa hình bằng phẳng, có nhiều vật che khuất. Đứng cách căn cứ khoảng 50 mét, chỉ thấy được cột anten cao vút cùng với những ngọn tre đung đưa trước gió Thông thường trung tâm thông tin nằm bên cạnh mục tiêu chủ yếu - vị trí chỉ huy của địch. Vì vậy, quá trình “bắn chuẩn bị” chúng tôi sẽ tập trung hỏa lực cầu vồng bắn vào đó.
Đánh giá được những mặt yếu của địch ở đây, trận đánh này, chúng tôi tổ chức đột kích một mũi từ hướng tây bắc - còn hướng thứ yếu, đông bắc thì chỉ làm nhiệm vụ “dương công” - nghĩa là cùng nổ súng tiến công, nhưng không đột phá vào cứ điểm của địch. Mục đích là để phân tán sự đối phó của chúng và hình thành thế tiến công bên sườn và phía sau, làm cho địch tan rã mau chóng - Phương pháp mở cửa qua bãi vật cản vẫn dùng mìn định hướng và bộc phá liên tục. Trung đoàn tăng cường cho tiểu đoàn 6 một khẩu đội cối 120 mm.
Ngày 27-5-1973, Tiểu đoàn 6 đã hoàn thành công tác chuẩn bị. Trên hướng chủ yếu, một đại đội bộ binh, được trang bị một quả mìn định hướng 10 kg, hai ống bộc phá dài 1,20 m và một tổ máy thông tin, vô tuyến và hữu tuyến, một tổ trinh sát cùng với du kích bảo đảm cho đội hình vào chiếm lĩnh đúng vị trí và thời gian quy định. Tiểu đoàn cử đồng chí Nguyễn Sương, trợ lý tác huấn cùng đi với đại đội trên hướng chủ yếu để giúp đỡ và nắm tình hình kịp thời báo cáo tiểu đoàn.
Trên hướng dương công, có một tổ du kích dẫn đường và phối hợp chiến đấu. Trong những năm chiến đấu trên chiến trường Khu 5, chúng tôi luôn luôn được sự giúp đỡ tích cực của lực lượng bộ đội địa phương và dân quân du kích. Chiến đấu ở vùng đồng bằng, bộ đội địa phương và dân quân du kích đóng vai trò rất quan trọng trong các hoạt động của bộ đội chủ lực.
Cũng như trong trận tiến công cứ điểm Cự Tài, hai bên đội hình mở cửa, chúng tôi bố trí hai khẩu ĐKZ75 và súng máy 12,7 mm.
Tôi và đồng chí chính trị viên Trần Sỹ Mỹ, lợi dụng căn hầm tránh pháo của dân, ở phía sau hướng chủ yếu cách lớp rào ngoài cùng khoảng 50 mét, làm vị trí chỉ huy. Phía sau vị trí chỉ huy tiểu đoàn là đại đội dự bị và trận địa cối 120 mm và 82 mm. Nói chung tất cả các thành phần trong đội hình chiến thuật tập kích địch trong căn cứ đều được tổ chức đầy đủ theo nguyên tắc.
22 giờ, trước lúc xuất phát vào vị trí triển khai tôi điện báo cáo trung đoàn trưởng. Đồng chí cho biết, theo tin cơ sở tình hình trong cứ điểm không có gì thay đổi. Đồng chí căn dặn cần chú ý kiểm tra, phát hiện và dò gỡ mìn thật an toàn, khi vào chiếm lĩnh phải thận trọng để bảo đảm yếu tố bí mật bất ngờ. Đồng chí không quên chúc tiểu đoàn hoàn thành nhiệm vụ.
Nghe xong, tôi trao máy điện thoại cho đồng chí chính trị viên tiểu đoàn gặp chính ủy trung đoàn và gọi đồng chí trợ lý thông tin đến.
- Đồng chí kiểm tra lại 2 quả pháo hiệu màu đỏ và hai quả màu xanh giúp tôi! Tôi nói.
Đồng chí trợ lý thông tin đáp “rõ” rồi chạy đi ngay, đến đại đội đột kích trên hướng chủ yếu.
Đến 22 giờ 30 phút, đội hình bắt đầu xuất phát. Trên các hướng đều có trinh sát và du kích dẫn đường. Tôi cảm thấy yên tâm và rất tự tin.
Pháo địch vẫn bắn cầm canh. Tuy đã quen với tiếng pháo nổ, nhưng có những quả pháo bay rít trên đầu, nổ rất gần, chúng tôi vẫn cứ bị giật mình. Nhiều lúc, nghe tiếng rít, theo phản xạ tự nhiên, bộ đội ta cứ nằm rạp xuống đất. Vẫn biết rằng, khi nghe tiếng rít của đạn pháo, tức là đạn đã bay qua và nổ ở nơi khác, nhưng người lính không thể chống lại phản xạ tự nhiên được.
Sau một tiếng rưỡi đồng hồ, bộ đội mới đến được vị trí triển khai. Do trong vườn của dân đã có một số hầm tránh pháo, nên đỡ được công việc làm công sự. Chỉ cần kiểm tra mìn, đề phòng địch gài lại. Từ đây tổ thông tin hữu tuyến bắt đầu kéo dây điện thoại tới đại đội đột kích và trận địa cối. Vì đã chiến đấu nhiều, nên anh em thông tin rất thành thạo công việc. Họ vừa nhanh nhẹn, vừa bí mật. Sở chỉ huy trung đoàn ở quá xa, nên trung đoàn phái một tổ thông tin vô tuyến tăng cường cho tiểu đoàn, về chuyên môn hoàn toàn do trung đoàn nắm và trang bị.
24 giờ, hướng đột kích chủ yếu gỡ được hai trái lựu đạn và một quả mìn chiếu sáng của địch. Trận địa cối 120 mm và 82 mm triển khai xong và sẵn sàng nhả đạn. Chỉ có hướng “dương công” chưa nắm được, vì không kéo theo dây điện thoại. Chúng tôi qui định chỉ dùng phương tiện thông tin vô tuyến, nhưng khi nổ súng mới được mở máy liên lạc.
Đêm cuối tháng, trăng lên muộn. Những ngọn gió từ vùng biển thổi vào mát rượi. Trong vườn, lá khô bay xào xạc. Những cây tre cọ vào nhau kêu cót két. Nhờ thế những động tác của bộ đội tiếp cận, phát ra tiếng kêu cũng được xóa đi. Bỗng một loạt súng tiểu liên từ trong cứ điểm bắn ra làm chúng tôi giật mình... Tôi nhấc máy điện thoại, thổi vào tổ hợp, nói nhỏ:
- Cho gặp đồng chí Sương!
Đầu dây bên kia, đồng chí Sương cầm máy
- Súng nổ ở đâu u đấy? - Tôi hỏi
- Súng trong cứ điểm bắn ra, nhưng nó bắn về hướng của lực lượng “dương công”! - Đồng chí Sương báo cáo.
24 giờ 45 phút, đại đội trưởng trên hướng chủ yếu báo cáo:
- Báo cáo thủ trưởng, tổ mở cửa đã cố định xong mìn định hướng, tất cả đã sẵn sàng!
- Đồng chí kiểm tra lại dây điện, máy điểm hỏa! Trường hợp điểm hỏa điện không nổ thì lên giật nụ xùy. Hoả lực ĐKZ và cối sẽ bắn ngay sau tiếng mìn của đồng chí! - Tôi nhắc lại hiệp đồng cho đại đội đột kích.
Đúng 01 giờ ngày 28-5, tôi ra lệnh nổ súng.
Một tiếng nổ “ầm” của quả mìn định hướng kế tiếp là hai khẩu ĐKZ với 2 luồng lửa, xé màn đêm, bao trùm lên mục tiêu là ụ súng đầu cầu. Ba khẩu cối 120 và 82 mm tập trung hỏa lực vào khu thông tin. Những ánh chớp lóe lên kèm theo tiếng nổ liên tục.
Sở chỉ huy tiểu đoàn nhộn nhịp hẳn lên. Các chiến sĩ thông tin vô tuyến gọi đi các hướng, nhắc đầu bên kia giữ vững liên lạc. Những anh mới “vào nghề” không thuộc hết mật mã, nhiều câu cứ phải nói “toạc móng heo”.
Đại đội đột kích báo cáo:
- Quả mìn định hướng đã “quét sạch” hai lớp rào, tôi đang cho đánh nốt hàng rào cuối cùng.
Trong khi tôi đang chỉ huy thì đồng chí Trần Sỹ Mỹ, chính trị viên tiểu đoàn xuống động viên đại đội dự bị sẵn sàng bước vào chiến đấu.
Đại đội đột kích báo cáo:
- Cửa mở đã xong, bộ đội đang lên đánh chiếm đầu cầu, đề nghị cho cối bắn vào trung tâm và cho ĐKZ bắn xa ra hai bên cửa mở!
Tôi nghĩ thầm: “Có lẽ ảnh hưởng của trận tiến công cứ điểm Cự Tài hôm trước, một đồng chí bị gãy một chân do ĐKZ của ta bắn lúc anh em xung phong lên đánh chiếm đầu cầu, đã tác động làm cho bộ đội ngần ngại hỏa lực của ta chăng?”
Song, bây giờ mà gọi điện thoại cho 2 khẩu ĐKZ “có trời mới nghe được”. Lỗ tai của xạ thủ đã bị điếc đặc. Chỉ có trận địa cối thì không ảnh hưởng gì. Tôi chỉ thị cho trợ lý pháo đến ngay chỗ hai khẩu ĐKZ truyền đạt mệnh lệnh cho pháo chuyển làn.
Sau 05 phút đại đội đội kích mở xong cửa. Đến phút thứ 06 thì đã chiếm được “đầu cầu”.
Địch chống trả quyết liệt. Đã có một đồng chí hy sinh, hai đồng chí bị thương, anh em đã đưa ra cửa mở. Đồng chí trợ lý chính trị dẫn một tổ vận tải và y tá lên đón và đưa ra phía sau. Tôi ra lệnh cho lực lượng “dương công”, tiến công vào phía sau cứ điểm địch, đồng thời trao đổi với đồng chí Mỹ cho điều đại đội dự bị lên gần cửa mở.
Sau 25 phút chiến đấu, đại đội đột kích chiếm được hai phần ba cứ điểm địch về bên trái, dồn chúng xuống một góc cứ điểm trên hướng đông nam.
Địch phản ứng dữ dội. Các trận địa pháo, từ hướng “nhà thờ” bắn đến, cối từ đường quốc lộ 1 bắn lên. Đạn nổ xung quanh nghe chát chúa. Lại thêm một số chiến sĩ bị thương. Đồng chí Nguyễn Sương báo cáo:
- Địch đang co cụm ở phía đông nam, dựa vào công sự, chiến hào chống trả. Muốn đánh sang đó, anh em phải qua một bãi trống, chiến hào ở đây bị đứt quãng. Một số đồng chí vượt qua, bị thương phải quay lại. Đề nghị tiểu đoàn cho lực lượng dự bị vào tiến công từ cánh phải sang phối hợp để dứt điểm!
- Tôi đồng ý! Đồng chí phổ biến cho anh em phối hợp!
Đại đội dự bị được tung vào trận đánh ngay sau đó. Các chiến sĩ tiến dọc theo chiến hào tiền duyên bên phải cửa mở, phối hợp với đại đội hai đột kích từ cánh trái. Lực lượng “dương công” nổ súng vào phía sau cứ điểm, cùng tiến công vào ba phía. Ít phút sau, ta hoàn toàn làm chủ trận địa. Hai phát pháo hiệu màu đỏ được bắn lên. Sở chỉ huy trung đoàn, qua pháo hiệu biết được tiểu đoàn 6 đã làm chủ cứ điểm của địch. Số địch sống sót chạy xuống hướng đông nam. Các trận địa cối của tiểu đoàn chuyển sang bắn chặn. Ta tiêu diệt được 35 tên địch tại chỗ, thu trên 20 súng các loại.
03 giờ sáng, tiểu đoàn tổ chức lui quân. Trên đường bị địch bắn pháo dữ dội. Đồng chí Nguyễn Sương “lãnh trọn” một quả cối 81 mm của địch, hy sinh.
Đồng chí Nguyễn Sương là một cán bộ tham mưu hăng hái, có nhiều kinh nghiệm. Năm 1964, khi tôi mới nhập ngũ, đồng chí đã là một cán bộ tiểu đội trưởng cùng trang lứa với đồng chí Võ Tùng, Trần Đình Liệu và nhiều đồng chí khác. Sinh ra và lớn lên trên quê hương Bà Trưng, Bà Triệu (Thanh Hóa), bản chất thật thà, tác phong nhanh nhẹn, vui tính và không bao giờ tự ái khi bị anh em kê kích, trêu chọc... Đồng chí mất đi là một tổn thất lớn của tiểu đoàn tôi...
Đầu năm 2004, tôi có dịp đi qua huyện Hoài Nhơn, về xã Hoài Châu với ý định tìm mộ Nguyễn Sương. Mặc dù, đồng chí và nhiều đồng chí khác hy sinh trong thời gian này được chôn cất chu đáo, nhưng cảnh vật nơi đây, sau 30 năm đã nhiều thay đổi. Tôi chưa tìm lại được. Tôi không hiểu là, gia đình đã đưa đồng chí về quê hay chưa?
Như vậy, đến giữa năm 1973, trong một thời gian rất ngắn, trên địa bàn trung đoàn bộ binh 12, đã xóa sổ 3 đại đội địch, đóng chốt ở 3 cứ điểm, phá vỡ tuyến ngăn chặn của địch dọc trục đường số 2, trên một tuyến dài gần 10 km, không những bảo vệ vững chắc vùng giải phóng phía tây huyện Hoài Nhơn, mà còn cùng với các đơn vị trong sư đoàn 3 tràn xuống vùng đồng bằng ven biển thuộc huyện Hoài Nhơn, Phù Mỹ, uy hiếp căn cứ Trà Quang, Bình Dương của sư đoàn 22 chủ lực Sài Gòn, thị trấn Bồng Sơn, sân bay Phù Cát và nhiều mục tiêu quan trọng khác tại tỉnh Bình Định.
| Khác với thời kỳ quân Mỹ chiếm đóng, những năm 1973 - 1974, tại hai tỉnh Bình Định và Quảng Ngãi, nhân dân các huyện Bình Sơn, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa, Đức Phổ (Quảng Ngãi), Hoài Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát, An Nhơn, Tuy Phước (Bình Định) không chịu vào ấp chiến lược, vẫn bám trụ trên quê hương, tham gia du kích hoặc đấu tranh trực diện với địch. Khẩu hiệu địch vận của ta trong thời gian này là: “Mỹ thua về Mỹ, còn binh sĩ về đâu?” hoặc là: “Súng Mỹ, lòng ta”. Các địa phương tổ chức một hệ thống làm công tác địch vận từ xã lên đến huyện, tỉnh. Trong mỗi trận chiến đấu đều kết hợp chặt chẽ giữa bộ đội chủ lực với bộ đội địa phương và quân dân du kích. Đấu tranh vũ trang kết hợp với đấu tranh chính trị và binh vận, làm cho địch bị tê liệt, mất sức chiến đấu, chính quyền của chúng mất hiệu lực. Các nhà văn nhà thơ theo sát chúng tôi suốt chiều dài lịch sử chiến tranh giải phóng miền Nam. Nhiều đồng chí có mặt trong những năm đấu tranh chống địch nống lấn, như nhà văn Nguyễn Trí Huân, Nguyễn Chí Trung, Bùi Thị Chiến, Nguyễn Thị Bắc Hà và nhiều anh chị em khác. Hình bóng và khuôn mặt thân thương, quen thuộc của họ luôn là nguồn động viên, khích lệ tinh thần chiến đấu của các chiến sĩ sư đoàn Bộ binh 3 Sao Vàng, thời gian ấy! Tại những vùng chiến tranh ác liệt, rất nhiều người dân tạm sống trong vùng địch kiểm soát, nhưng vẫn tìm cách tiếp tế lương thực cho bộ đội. Sau thời gian tạm yên, có người trở về, nhà cửa bị bom đạn địch đánh phá tan hoang. Họ lại dựng lều ngay bên cạnh hố bom để ở. Nhưng trong lòng vẫn tin tưởng ngày toàn thắng đã đến gần. Chiến tranh đã tạo cho con người thêm dày dạn trong bom đạn ác liệt của kẻ thù, gắn bó với quê hương, xem thường cái chết và luôn khao khát được sống trong hòa bình. Từ khi ký Hiệp định Paris, Mỹ rút quân về nước. Trên chiến trường, quân đội Sài Gòn bị thua liên tiếp. Vùng giải phóng không ngừng được mở rộng, chính quyền cách mạng ngày càng được củng cố vững chắc. Tiểu đoàn 6 cùng với đội hình trung đoàn được lệnh phát triển xuống đồng bằng ven biển từ xã Hoài Thanh đến xã Hoài Hương (huyện Hoài Nhơn) vào đến xã Mỹ Thắng - Mỹ Thọ (huyện Phù Mỹ). Huyện Hoài Ân được giải phóng. Đội hình sư đoàn 3 chiếm lĩnh một vùng rộng lớn của tỉnh Bình Định, chia cắt, cô lập các mục tiêu then chốt, như thị xã Quy Nhơn, sân bay Phù Cát, thị trấn Bồng Sơn, căn cứ Đệ Đức, Thiết Đính và Trà Quang của sư đoàn 22 Cộng Hòa. Sư đoàn 3 đã có trung đoàn bộ binh 12 ở Đông đường quốc lộ số 1, hai trung đoàn ở phía tây là trung đoàn bộ binh số 2 và số 141. Địch phải co vào trong các căn cứ. Hầu hết các huyện giáp ranh và các huyện vùng đồng bằng, ban ngày nhân dân đi lại tự do. Ban đêm bộ đội, du kích di chuyển từ vùng này sang vùng khác, từ phía tây xuống phía đông đường số 1, tấp nập như trẩy hội. Để tạo thế liên hoàn, vững chắc, nhiệm vụ trước mắt của sư đoàn 3 là “giải quyết” một số mục tiêu dọc trục đường số 1, gồm núi Nùng, đèo Nhông, đèo Phú Cũ tiến tới bao vây, cô lập các căn cứ còn lại của địch, phối hợp với các lực lượng vũ trang quân khu, mở chiến dịch quy mô lớn giải phóng tỉnh Bình Định khi có thời cơ mới. Thời gian lúc này, “một ngày bằng hai mươi năm”. Kế hoạch tác chiến của chiến dịch Mùa Thu năm 1974, được mở đầu bằng trận tiến công đánh chiếm núi Nùng, tiến tới đánh chiếm Đèo Nhông, cắt đứt hoàn toàn đường số 1, buộc sư đoàn 22 Cộng hòa ra phản kích để ta tiêu diệt lớn sinh lực của chúng. Núi Nùng và Núi Chóp Vung (Đèo Nhông) đều nằm trên trục đường quốc lộ số 1, thuộc huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định. Núi Nùng nằm cạnh đường số 1 về phía Tây; đèo Nhông nằm cạnh đường số 1 về phía đông. Hai quả núi cách nhau khoảng một km, có độ cao tương đương, gần 200m so với mực nước biển. Phía bắc là đèo Phú Cũ (đã đề cập đến ở phần trước); phía nam là ấp Diêm Tiêu. Thứ tự từ hướng bắc vào: Phú Cũ, đèo Nhông, núi Nùng, Diêm Tiêu, tạo nên thế liên hoàn trong hệ thống phòng thủ cơ bản của địch dọc theo đường số 1, khống chế trên một đoạn đường dài 20km, nối liền hai huyện Phù Cát và Hoài Nhơn. Chi viện cho các mục tiêu trên, chủ yếu là sư đoàn 22 Cộng hòa, có các căn cứ ở Đệ Đức, Trà Quang ở hướng Bắc, An Sơn ở hướng Nam. Về tình hình sư đoàn 3: giữa năm 1974, trung đoàn bộ binh 12 xuống hoạt động phía đông huyện Phù Mỹ, bao gồm các xã Mỹ Thắng, Mỹ Quang, Mỹ Thọ và đã chiếm lĩnh hoàn toàn dãy núi “Mẹ bồng con”, Đông đường số 1, đối diện với núi Nùng và đèo Nhông. Sư đoàn 3 (thiếu trung đoàn bộ binh 12), triển khai tại huyện Hoài Ân: trung đoàn bộ binh 141 bảo vệ vùng giải phóng và làm dự bị. Lực lượng chủ yếu tiến công núi Nùng là trung đoàn bộ binh số 2 và tiểu đoàn 5 thuộc trung đoàn bộ binh số 12. Tiểu đoàn 6 được giao nhiệm vụ tiến công, đánh chiếm đèo Nhông. Tình huống tác chiến bây giờ là đánh địch theo mệnh lệnh, vì sự phát triển quá nhanh trên chiến trường. Tiến công địch không có sự chuẩn bị hoặc chuẩn bị gấp. Mọi tình huống giờ đây đến rất nhanh và qua đi rất nhanh. Nếu xử trí chậm, có khi chủ động sẽ trở nên bị động, lúng túng và mất thời cơ thuận lợi. Đêm 22-7-1974, chúng tôi tiến hành đi trinh sát mục tiêu đèo Nhông. Sườn đồi phía đông dốc chừng 60 độ, hỏa lực bắn thẳng rất khó bố trí. Ở đây có hai lớp rào kẽm gai bùng nhùng, rải theo sườn đồi. Tôi và hai đồng chí trinh sát vừa bò lên đến lớp rào thứ nhất, một đồng chí trinh sát đạp lên một cục đá to bằng quả bóng, cục đá lăn xuống theo sườn đồi nghe lộc cộc... Địch trên đỉnh đồi ném lựu đạn xuống, nhưng lựu đạn cũng lăn xuống dưới chân đồi nổ chát chúa. Địch bắn mãi rồi cũng phải im lặng, không gian bốn bề trở lại yên tĩnh. Gió biển thổi vào mát lạnh. Từ đèo Nhông nhìn xuống biển xã Mỹ Thọ và Mỹ Thắng thấy vô số những ngọn đèn nêông hắt ra từ những tàu thuyền đánh cá, sáng rực cả một vùng trời. Đêm nay các đơn vị thuộc sư đoàn 3 cũng tung trinh sát, cán bộ đi nghiên cứu, chuẩn bị cho những trận chiến đấu ngày mai, có thể diễn ra xung quanh núi Nùng, trên đường quốc lộ số 1 từ đèo Phú Cũ đến đèo Nhông, ấp Diêm Tiêu. Trung đoàn bộ binh 12 đang xây dựng trận địa phòng không xung quanh dãy núi “Mẹ bồng con”, và nhiều nơi khác. Có ai hiểu được rằng trong đêm tối mịt mùng, trên chiến trường có biết bao nhiêu con người đang lặn lội trong sương gió, chuẩn bị khẩn trương cho những trận đánh ác liệt sẽ diễn ra sau đó mấy tiếng đồng hồ... Sáng 23-7, chúng tôi đã trinh sát xong mục tiêu đèo Nhông. Trận địa cối và ĐKZ75 dự kiến bố trí ở sườn đông nam, cách đỉnh đèo Nhông khoảng 400 mét. Trận địa ĐKZ gần mục tiêu hơn và bắn theo “tà dương”. Đội hình đột kích trên hai hướng: đông - đông nam, chủ yếu và phía nam, thứ yếu. Theo hiệp đồng, cối 120 mm của sư đoàn, từ phía tây đường số 1 chi viện cho chúng tôi trong thời gian “bắn chuẩn bị”, bắn trực tiếp lên đỉnh Chóp Vung. Xem ra thì cũng “mạo hiểm”. Bởi lẽ, đội hình đột kích của chúng tôi ở Đông đường số 1, hỏa lực chi viện của sư đoàn ở phía tây đường số 1, thông tin liên lạc bằng phương tiện vô tuyến. Giữa hỏa lực và đội hình xung lực có phần đối diện nhau, những điều “tối kỵ” trong chiến đấu. Song, sau này khi tiến công mục tiêu mọi việc đều tốt đẹp. Đêm 27 rạng sáng 28/7/1974, trung đoàn bộ binh 2, được tăng cường tiểu đoàn 5 trung đoàn bộ binh 12, được sự chi viện bằng pháo binh của sư đoàn, thực hành tiến công đánh chiếm núi Nùng, tiêu diệt một đại đội địch đóng chốt ở đây. Lập tức, liên đoàn biệt động số 4 từ căn cứ Trà Quang, dựa vào đèo Phú Cũ và đèo Nhông ra phản kích hòng chiếm lại núi Nùng. Suốt ngày 28 và sang ngày 29/7 diễn ra những trận chiến đấu ác liệt xung quanh núi Nùng và trên đoạn đường hơn một km, từ đèo Nhông đến ấp Diêm Tiêu giữa lực lượng cơ động của ta với liên đoàn biệt động số 4 của địch. Liên đoàn biệt động bị tiêu diệt gần hết. Đúng lúc đó, đêm 29 tháng 7 tiểu đoàn 6 áp sát đèo Nhông, 0 giờ 30 phút (ngày 30-7) dưới sự chi viện trực tiếp của hỏa lực, tổ bộc phá leo lên sườn, mở qua hai lớp rào kẽm gai. Sau ít phút hỏa lực bắn chuẩn bị, trận địa cối 120 mm của Sư đoàn từ phía tây đường số 1 bắn lên đỉnh đèo Nhông làm nổ tung một kho đạn của địch. Đạn nổ dữ dội, miểng bay văng ra xung quanh sườn đồi, lửa khói bốc lên sáng rực. Đạn địch trong kho nổ hết, hai hướng bộ đội ta xông lên. Hầu hết, địch trong căn cứ bị chết. Lực lượng của chúng đóng dưới sườn đồi, bỏ chạy về phía bắc đường số 1. Ta làm chủ hoàn toàn đèo Nhông, thu toàn bộ vũ khí. Địch chết 14 tên tại chỗ. Cuộc phản kích hòng chiếm lại núi Nùng của địch bị thất bại, đèo Nhông bị ta đánh chiếm, địch ở đèo Phú Cũ bỏ chạy. Ta làm chủ hoàn toàn đường số 1 nối liền các huyện Hoài Nhơn - Phù Mỹ - Phù Cát. |


