Bài viết

Sơ đồ trận đánh Đắk-Pơ “Điện Biên Phủ - Tây Nguyên”

Gia Lai16/05/2026Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Sơ đồ trận đánh Đắk-Pơ “Điện Biên Phủ - Tây Nguyên”Chiến thắng Đắk-Pơ ngày 24 tháng 6 năm 1954 tạo nên một bước ngoặt đột biến, trực tiếp làm cho quân Pháp ở Tây Nguyên bị vỡ trận, góp phần quan trọng cùng với Điện Biên Phủ, với cả nước đánh gục hoàn toàn ý chí xâm lược của địch, buộc chúng phải nhanh chóng ký Hiệp định đình chiến, sớm lập lại hòa bình trên toàn cõi Đông Dương. Tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam hiện lưu giữ tấm sơ đồ (BTQĐ 3640-Gi-255) về trận đánh lịch sử này.

Sau Chiến thắng Điện Biên Phủ 1954, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân ta vẫn còn tiếp diễn cho đến khi Hiệp định Giơnevơ chính thức được ký kết (20 tháng 7 năm 1954) và lệnh ngừng bắn có hiệu lực. Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng, đẩy mạnh kết hợp đấu tranh ngoại giao với đấu tranh quân sự, lực lượng vũ trang nhân dân cả nước nắm chắc thời cơ địch đang hoang mang, sa sút; tận dụng thế và lực do Chiến thắng Điện Biên Phủ mang lại, liên tục tiến công địch trên khắp các chiến trường và thu được nhiều thắng lợi. Chiến thắng Đắk-Pơ - Điện Biên Phủ ở Liên khu 5 Trên địa bàn huyện Đắk-Pơ, tỉnh Gia Lai, chiến trường Tây Nguyên đã diễn ra trận đánh Đắk-Pơ lịch sử ngày 24 tháng 6 năm 1954 do Trung đoàn 96, Liên khu 5 tiến hành, tiêu diệt toàn bộ Binh đoàn cơ động 100 (GM 100) quân viễn chinh Pháp rút chạy trên đường 19 từ thị trấn An Khê về Pleiku, góp phần đưa chiến trường Tây Nguyên đến thắng lợi. Cùng chiến thắng trên chiến trường chính Bắc Bộ và các chiến trường khác, buộc thực dân Pháp phải ngồi vào bàn đàm phán và ký Hiệp định Giơnevơ chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương. Trong trận này, ta chọn địa hình phục kích đoạn cầu Đắk-Pơ trên đường 19 từ An Khê đi Pleiku. Đoạn đường nằm giữa hai cứ điểm Cà Tung và Mũi Nhung cách nhau chưa đầy 15km, nhưng rất hiểm trở, có địa thế về quân sự, đặc biệt về chiến thuật phục kích. Phía Bắc trục đường có nhiều đồi, núi xen kẽ, thuận tiện cho ta bố trí lực lượng, phương tiện chiến đấu bí mật, phát huy hỏa lực, làm bàn đạp xung phong ra mặt đường, đánh hất, dồn địch xuống phía Nam trục đường (địa hình có nhiều hố sâu kéo dài đến tận thung lũng Sông Ba). Phía Đông, Tây trục đường tiện bố trí lực lượng chủ yếu, gồm: đối diện, chặn đầu, khóa đuôi; tiện quan sát và phát huy hỏa lực. Nhìn chung, khi địch lọt vào đoạn này, bị ta cô lập hoàn toàn, dồn, tắc không thể cơ động, xung lực, hỏa lực khó triển khai, chỉ còn cách vứt, bỏ vũ khí, trang bị cá nhân lẩn trốn, không thì bị tiêu diệt. Từ sáng sớm 24 tháng 6, lực lượng của địch ở An Khê gồm Binh đoàn cơ động 100 lặng lẽ rút quân, theo Đường 19 về Pleiku. Trưa ngày 24 tháng 6, khi bộ phận đi đầu của địch vượt qua cầu Đắk-Pơ, quân ta bắt đầu nổ súng. Trận đánh tiếp diễn ác liệt, kéo dài suốt chiều, qua đêm và đến trưa 25 tháng 6 mới kết thúc. Kết quả đúng như dự kiến, sở chỉ huy Binh đoàn cơ động 100 tan tác, quan 5 Barrou bị thương, bỏ chạy vào rừng đến trưa hôm sau thì bị bắt. Tên phó chỉ huy lên thay, địch ngoan cố phản kích 7 đợt bằng xe tăng. Đến 19 giờ, ta làm chủ trận địa. Một trung đội truy kích được trang bị 2 đại liên tiếp tục tổ chức thu gom, bắt sống 300 tàn binh và Bộ Tham mưu của chúng đang trốn chạy tán loạn. Lần đầu tiên ta chiến thắng một trận đánh trên trục đường giao thông lớn trong kháng chiến chống Pháp. Tại chiến trường, ta hy sinh 147 đồng chí, 80 đồng chí bị thương; phía địch bị tiêu diệt 1.100 tên (500 tên chết tại chỗ), bắt sống 800 tên (có 1 quan 5), thu 375 xe cơ giới (có 229 xe còn nguyên vẹn), 1 xe tăng, 18 đại bác 105 ly và nhiều vũ khí, khí tài, quân trang, quân dụng . Binh đoàn cơ động 100 bị xóa sổ cùng lực lượng chiếm đóng An Khê. Được tin thắng trận Đắk-Pơ, Bác Hồ đã gửi thư khen và tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng Nhất cho Trung đoàn 96, trong thư Người có ghi: “Các chú hoạt động khá lắm…”. Hiện nay, trên tấm bia khắc đặt tại Đài tưởng niệm Chiến thắng Đắk-Pơ (huyện An Khê, tỉnh Gia Lai) có ghi đánh giá của Đại tướng Võ Nguyên Giáp: “Đánh và tiêu diệt gọn Binh đoàn cơ động 100 thuộc loại mạnh nhất của lực lượng viễn chinh Pháp ở Triều Tiên mới về. Đây là một trận vận động phục kích lớn, dũng cảm và linh hoạt, tận dụng được yếu tố bất ngờ, sử dụng lực lượng với hiệu quả cao, đánh trúng vào chỗ yếu của địch, bồi thêm cho chúng một đòn thất bại nặng nề”. Sơ đồ trận đánh Đắk-Pơ Để có được thắng lợi vang dội đó là sự phối hợp chặt chẽ của quân và dân trên địa bàn, đặc biệt là những đóng góp của Tiểu đoàn 40 thuộc Trung đoàn 96, ở đó có vai trò quan trọng từ tấm sơ đồ trận đánh Đắk-Pơ, hiện đang lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam. Tìm hiểu nguồn gốc, nội dung của tấm sơ đồ qua hồ sơ hiện vật đang lưu giữ tại Bảo tàng cũng như các nguồn sử liệu liên quan đến trận đánh Đắk-Pơ và lời kể của nhân chứng, người đã trực tiếp vẽ tấm sơ đồ, ông Nguyễn Tự, khi đó là cán bộ Tham mưu tác chiến của Tiểu đoàn 40. Sơ đồ trận đánh Đắk-Pơ Ông Nguyễn Tự cho biết, sau khi có tin tình báo cho biết Binh đoàn cơ động GM 100 sẽ rút chạy từ hướng thị trấn An Khê về thị xã Pleiku, Trung đoàn 96 đã cử cán bộ đi khảo sát địa thế, chuẩn bị chiến trường tại Đắk-Pơ. Qua quá trình nghiên cứu địa hình, bộ đội ta quyết định đánh địch ngay tại suối Đắk-Pơ, cách thị trấn An Khê khoảng 15km. Một chi tiết đặc biệt là nơi đây có một khúc cua hiểm trở, từ phía Cà Tung đi lên vừa hết dốc đã hạ độ cao xuống ngay một cây cầu nhỏ bắc qua con suối hẹp gấp khúc hình chữ chi (Z), rồi lại lên dốc và nối tiếp ngay vào đoạn đường có nhiều mỏm đá nhô ra. Địa hình này rất thuận lợi cho việc chặn đầu và khóa đuôi của trận phục kích. Thế nhưng trên những quả đồi cao che chắn, ta bố trí hỏa lực, phục binh thế nào cho phù hợp? Điều này yêu cầu phải nghiên cứu địa hình thật kỹ. Sau khi đánh giá tình hình, Ban chỉ huy Tiểu đoàn 40, giao nhiệm vụ cho đồng chí Nguyễn Tự vẽ toàn bộ sơ đồ và đắp sa bàn trận đánh. Khi đó không có máy móc, trang bị hiện đại nên tất cả đều làm thủ công, tự vận dụng. Ông Tự có cách ghi chép của riêng mình, đó là đi quan sát thực địa, ban ngày căn cứ vào mặt trời, ban đêm định vị bằng trăng sao. Không có máy móc thì dùng dây rừng và bước chân để đo đếm, vẽ nên hình khe thế núi. Công việc nghe kể tưởng chừng đơn giản, nhưng phải mất 7 ngày đêm ròng rã, vạch lau xuyên rừng, ghi chép cần mẫn mới vẽ nên tấm sơ đồ. Cái khó nhất của việc định vị bằng mặt trời, trăng và sao Bắc Đẩu là tinh tú này không đứng yên mà luôn di chuyển, nên vừa lấy làm hệ quy chiếu vừa phải ước đoán các góc độ. Sau khi vẽ xong sơ đồ, lại mất 3 ngày nữa để đắp sa bàn bố trí trận đánh. Công việc hoàn thành, chỉ huy Tiểu đoàn 40 tổ chức duyệt phương án tác chiến thông qua tấm sơ đồ và sa bàn do đồng chí Nguyễn Tự đảm nhiệm được chấp thuận. Thực hiện quyết tâm chiến đấu, đúng 12 giờ 45 phút ngày 24 tháng 6 năm 1954, quân ta nổ súng, chiếc xe đầu tiên trúng đạn găm đầu xuống đường ngay vùng suối Đắk-Pơ (đỉnh dốc giữa km 94 và 95). Đồng loạt các hướng hai bên, bộ đội bất ngờ bắn đạn pháo cấp tập phủ xuống đội hình quân địch trên đoạn đường dài hơn 5km, đoàn xe cơ giới các loại dồn lại co cụm và nối đuôi giáp vào nhau trong sự hoảng loạn của binh lính viễn chinh và các tên quan Pháp. Tháng 4 năm 1959, nhằm đẩy mạnh sưu tầm hiện vật phục vụ trưng bày Bảo tàng Quân đội (nay là Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam) chuẩn bị mở cửa (tháng 12 năm 1959), nhiều đoàn công tác đã tiến hành sưu tầm hiện vật về Quân đội nhân dân Việt Nam. Trong đó đã tiếp nhận sơ đồ trận đánh trong trận Đắk-Pơ, do đồng chí Nguyễn Tự (khi đó là Thiếu úy, Trung đội trưởng Tiểu đoàn 12, Sư đoàn 305) – người đã vẽ sơ đồ trực tiếp trao tặng. Gần 7 thập kỷ, tấm sơ đồ hình chữ nhật đã cũ song vẫn còn nguyên vết mực vẽ bằng mực xanh đỏ mô tả chi tiết các vị trí trong trận tiêu diệt Binh đoàn cơ động 100 của quân Pháp, là minh chứng hùng hồn về Chiến thắng Đắk-Pơ - “Điện Biên Phủ - Tây Nguyên” mà thế hệ cha anh đã lập nên./.Lâm Văn Phú

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Sơ đồ trận đánh Đắk-Pơ “Điện Biên Phủ - Tây Nguyên” | Câu chuyện thời hoa lửa