Sợi tóc bạc tuổi bốn mươi hai và chuyến đò chở nắng qua sông đêm rằm
Bạn nghĩ phụ nữ bốn mươi tuổi thời nay đang làm gì? Đi spa, chăm sóc gia đình, hay bận rộn với những dự án công sở? Nhưng vào năm 1966, ở cái tuổi bốn mươi hai – cái tuổi mà người ta bắt đầu tìm kiếm sự ổn định, Liệt sĩ Nguyễn Thị Gái lại chọn đứng ở ranh giới mỏng manh nhất giữa sự sống và cái chết: dưới làn mưa bom tọa độ của giặc Mỹ. Chị không phải là một cô gái mười tám đôi mươi bồng bột, chị là một người mẹ, một người chị mang trên đầu những sợi tóc bắt đầu chớm bạc. Chị ngã xuống vào ngày
Sợi tóc bạc tuổi bốn mươi hai và chuyến đò chở nắng qua sông đêm rằm
Bạn nghĩ phụ nữ bốn mươi tuổi thời nay đang làm gì? Đi spa, chăm sóc gia đình, hay bận rộn với những dự án công sở? Nhưng vào năm 1966, ở cái tuổi bốn mươi hai – cái tuổi mà người ta bắt đầu tìm kiếm sự ổn định, Liệt sĩ Nguyễn Thị Gái lại chọn đứng ở ranh giới mỏng manh nhất giữa sự sống và cái chết: dưới làn mưa bom tọa độ của giặc Mỹ. Chị không phải là một cô gái mười tám đôi mươi bồng bột, chị là một người mẹ, một người chị mang trên đầu những sợi tóc bắt đầu chớm bạc. Chị ngã xuống vào ngày 15 tháng 9 năm 1966, đúng vào đêm rằm Trung thu khói lửa, để lại một khoảng trống rỉ máu trong lòng đất mẹ Nam Hà và một bài học đanh thép về lòng quả cảm găm thẳng vào tim thế hệ trẻ hôm nay.
Là một thanh niên Gen Z tham gia cuộc thi "Cuộc chiến thời hoa lửa", tôi đã từng nghĩ lòng dũng cảm chỉ có ở những chàng trai xông pha nơi hòn tên mũi đạn. Nhưng khi nghe các thế hệ đi trước nghẹn ngào kể lại câu chuyện về người con gái quê hương Yên Kinh, Nam Hà, tôi mới hiểu: Sự hy sinh thầm lặng của người phụ nữ hậu phương đôi khi còn tàn khốc và vĩ đại hơn bất cứ thước phim hành động nào.
Năm 1966, cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ leo thang đến mức điên cuồng nhất ở miền Bắc. Nam Hà (nay là Hà Nam và Nam Định) với các tuyến giao thông trọng điểm, các con sông huyết mạch chi viện cho miền Nam trở thành mục tiêu săn đuổi gắt gao của "thần sấm", "con ma" Mỹ. Những bến đò, cây cầu ngày đêm bị cày xới bởi bom từ trường, bom nổ chậm.
Ở tuổi 42, chị Nguyễn Thị Gái không quản ngại thanh xuân đã muộn, không màng đến hiểm nguy rình rập, xung phong tham gia vào lực lượng dân quân, trực tiếp bám trụ tại những tọa độ lửa. Nhiệm vụ của chị là giữ vững mạch máu giao thông: chở bộ đội qua sông, tiếp tế quân lương, san lấp hố bom ngay sau khi máy bay giặc vừa dứt tiếng gầm rú.
Chi tiết biểu tượng: Chiếc kẹp tóc bằng đồng và vành nón mê đẫm mồ hôi. Các o, các bác ngày xưa kể lại, chị Gái có một mái tóc dài, tuy đã điểm vài sợi bạc của sương gió nhưng luôn được búi gọn gàng bằng một chiếc kẹp tóc tự chế đập từ mảnh vỏ đạn đồng. Chị thường đội chiếc nón mê rách vành, nở nụ cười đôn hậu bảo với lớp trẻ mười tám, đôi mươi trong đội dân quân: "Mấy đứa cứ nấp kỹ, để chị chèo chuyến này. Chị già rồi, tay chèo vững hơn, sóng lớn bom dội cũng không làm chị lạc hướng được đâu". Chiếc kẹp đồng ấy không chỉ giữ cho mái tóc chị gọn gàng lúc kéo pháo, đẩy xe, mà còn là biểu tượng của một ý chí thép, cứng cáp và bất khuất trước bom đạn.
Đêm ngày 15 tháng 9 năm 1966 — đúng vào đêm rằm tháng Tám âm lịch. Đáng lẽ đó phải là một đêm Trung thu thanh bình, trẻ con được rước đèn, phá cỗ dưới ánh trăng vằng vặc. Nhưng không, bầu trời Yên Kinh đêm ấy bị xé toạc bởi tiếng gầm rú điên cuồng của giặc Mỹ. Chúng phát hiện ra một đoàn xe vận tải đang chuẩn bị vượt sông chi viện cho tiền tuyến nên đã điên cuồng trút bom xuống bến nước.
Trời sáng rực bởi bom tọa độ và pháo sáng của địch. Mặt sông cuộn sóng dữ dội, khét lẹt mùi thuốc súng. Bất chấp nguy hiểm, chị Nguyễn Thị Gái cùng chiếc kẹp tóc đồng lấp lánh dưới ánh trăng rằm, kiên cường lao ra bến. Chị ghì chặt tay chèo, chở hết chuyến đò này đến chuyến đò khác đưa thương binh và hàng hóa vào vùng an toàn.
Đến chuyến đò quyết định, một loạt bom bi và tên lửa dội thẳng xuống trận địa bến sông. Một mảnh bom tàn khốc đã phạt ngang mạn thuyền, găm thẳng vào lồng ngực người mẹ quê hương Nam Hà. Chị ngã xuống, tay vẫn giữ chặt mái chèo như muốn đẩy con thuyền về phía trước. Chiếc kẹp tóc bằng vỏ đạn đồng văng ra, rơi xuống lòng sông Yên Kinh, chìm vào lòng đất mẹ đúng vào cái đêm trăng tròn nhất của năm 1966.
Chị hy sinh ở tuổi 42, cái tuổi đã đi qua nửa đời người với bao lo toan, vun vén. Chị ngã xuống không phải vì vinh quang cá nhân, không có một chức vụ cao sang nào ghi trên giấy tờ, chỉ vỏn vẹn hai chữ "liệt sĩ" đổi lấy sự bình yên cho những chuyến xe vào Nam.
Nhìn lại sự hy sinh của liệt sĩ Nguyễn Thị Gái, tôi thấy hổ thẹn cho những lần bản thân than vãn về những áp lực vụn vặt của cuộc sống hiện đại. Thế hệ của chị Gái ngày xưa đã sống một cuộc đời không có chỗ cho sự ích kỷ. Họ dùng cả thanh xuân muộn màng và xương máu của mình để dọn đường cho tương lai của chúng tôi.
Câu chuyện của chị không cần những giọt nước mắt bi lụy, nó cần một lời thề của hành động. Đêm Trung thu ngày nay đã ngập tràn ánh đèn điện tử, không còn tiếng bom rơi, nhưng chúng ta không được phép quên dưới lòng những con sông quê hương, có máu của những người mẹ, người chị đã hòa vào dòng nước.
Khi người đi trước đã dùng cả cuộc đời và mái tóc chớm bạc để chở bình yên qua bão đạn, thì người đi sau không có quyền sống một cuộc đời lướt qua, vô cảm và quên đi cội nguồn.



