SỐNG ANH DŨNG, CHẾT HOÁ VĨNH HẰNG
Anh hùng, liệt sĩ Lê Thị Riêng (1925–1968) là một nữ chiến sĩ cách mạng kiên trung, giữ chức vụ Phó Chủ tịch Hội Phụ nữ Giải phóng miền Nam Việt Nam. Sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo tại Bạc Liêu, bà sớm giác ngộ và tham gia hoạt động cách mạng từ năm 20 tuổi. Suốt hai cuộc kháng chiến, bà là người lãnh đạo xuất sắc của phong trào phụ nữ, trực tiếp xây dựng nhiều cơ sở cách mạng ngay trong lòng địch tại Sài Gòn – Gia Định. Năm 1967, do có kẻ phản bội, bà bị địch bắt và tra tấn dã man suốt 9 tháng ròng rã nhưng quyết không khai báo. Đêm mùng 2 Tết Mậu Thân (1/2/1968), kẻ thù hèn hạ đưa bà đi thủ tiêu trên đường Hồng Bàng. Trong giây phút sinh tử trước họng súng, bà đã dùng những hơi sức cuối cùng ngã người che chở đạn cho đồng đội của mình. Sự hy sinh anh dũng của bà ở tuổi 43 đã trở thành một biểu tượng bất tử, và tên bà hiện được đặt cho một công viên lớn tại Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
"Đêm Mậu Thân, đường Hồng Bàng máu đổ,
Họng súng thù điên cuồng trút đạn bom.
Chị ngã xuống, dùng tấm thân che chở,
Nhường sự sống cho đồng chí, nước non.
Lời hô cuối vang rền trong bóng tối,
Tên của Chị hóa bất tử với thời gian."
Đêm mùng 2 Tết Mậu Thân năm 1968, trong cơn hoảng loạn tột cùng trước sức công phá như vũ bão của quân ta, kẻ thù đã hèn hạ áp giải bà Lê Thị Riêng cùng các đồng chí đi thủ tiêu bí mật trên con đường Hồng Bàng lịch sử. Giữa lằn ranh tấc gang của sự sống và cái chết, trước họng súng lạnh lùng và tàn bạo của giặc, người con gái kiên trung ấy không một chút run sợ. Bằng bản năng của một người lãnh đạo và trái tim vĩ đại của một người đồng chí, bà đã dùng những hơi sức cuối cùng ngã người che chở, hứng chịu toàn bộ làn đạn tàn khốc để giành lại sự sống cho người đồng đội đi cùng. Khoảnh khắc bi tráng, đầy linh thiêng và đậm tình đồng chí cao cả ấy đã được hậu thế xúc động kết tinh qua những vần thơ trên. Lời hô “Hồ Chí Minh muôn năm” vang lên kiêu hãnh giữa màn đêm tịch mịch trước lúc bà ngã xuống ở tuổi 43 không chỉ là lời tuyên ngôn đanh thép về niềm tin tất thắng của cách mạng, mà còn là khúc vĩ thanh kiêu hùng của một cuộc đời trọn vẹn hiến dâng. Sự hy sinh của bà không phải là một dấu chấm hết, mà là một sự hóa thân vào hồn thiêng sông núi, tạc vào lịch sử dân tộc một tượng đài bất tử về lòng trung trinh và tinh thần phụ nữ Việt Nam anh hùng.
Đầu tiên, chúng ta hãy ta hãy qua ngược dòng về quá khứ nơi có bom đạn và chiến tranh tàn khốc, anh hùng, liệt sĩ Lê Thị Riêng sinh năm 1945 và mất năm 1968, sinh ra tại làng Vĩnh Mỹ, huyện Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu. Bà lớn lên trong một gia đình bần nông nghèo của vùng quê sông nước Nam Bộ. Do mồ côi mẹ từ khi mới lên ba tuổi, ông ngoại lấy vợ hai. Bà được đưa đến gia đình ông Mười Một nuôi. Từ nhỏ, bà đã phải làm việc vất vả cực nhọc, vừa giặt giũ cơm nước vừa chăm sóc các em. Bà sinh năm Ất Sửu, vì thế hồi nhỏ, mọi người quen gọi là Hai Ngưu. Tuổi thơ của bà phải trải qua nhiều vất vả, cực nhọc và sớm chứng kiến cảnh áp bức, bóc lột của địa chủ phong kiến tại quê nhà. Chính hoàn cảnh gia đình và vùng quê giàu truyền thống đã sớm hun đúc trong lòng người thiếu nữ Bạc Liêu một tinh thần ái quốc sâu sắc, để rồi lòng yêu nước nồng nàn ấy đã giúp bà trở thành một người có trách nhiệm, biết được hoàn cảnh đất nước và hỗ trợ cho quốc gia vào lúc khó khăn khi chiến tranh nổ ra. Khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 bùng nổ, người con gái tuổi đôi mươi ấy đã hăng hái tham gia giành chính quyền tại quê nhà Bạc Liêu. Trong suốt thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 – 1954), bà hoạt động năng nổ trong phong trào Phụ nữ Cứu quốc ở khắp các tỉnh miền Tây và miền Đông Nam Bộ, nhanh chóng trở thành một thủ lĩnh phụ nữ kiên cường.
Cuộc đời của Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Lê Thị Riêng là một cuốn sử thi hào hùng được viết nên bằng xương máu, gắn liền với cả hai thời kỳ kháng chiến trường kỳ và khốc liệt nhất của dân tộc. Tinh thần ái quốc sắt son trong bà không phải là ngọn lửa nhất thời, mà là dòng chảy bền bỉ xuyên suốt từ những ngày đầu toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp cho đến những năm tháng đối đầu với đế quốc Mỹ xâm lược. Qua mỗi chặng đường lịch sử, lòng yêu nước nồng nàn và bản lĩnh kiên cường của người con gái Nam Bộ ấy lại càng được tôi luyện qua khói lửa chiến tranh, biến bà trở thành một biểu tượng bất tử của cả hai thời kỳ đánh giặc cứu nước.
Đầu tiên, chúng ta sẽ nhìn lại thời kì chống Pháp vào năm 1945 đến năm 1954. Thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp chính là ngọn lửa đầu tiên để tôi luyện nên bản lĩnh cách mạng kiên cường của người con gái xứ Bạc Liêu. Bước sang tuổi đôi mươi, khi ngọn lửa Cách mạng Tháng Tám năm 1945 bùng cháy sục sôi, bà Lê Thị Riêng đã hăng hái tham gia giành chính quyền tại quê nhà, chính thức dấn thân vào con đường trường chinh đầy gian khổ của dân tộc. Với lòng yêu nước nồng nàn và sự nhạy bén thiên bẩm, bà nhanh chóng trở thành một cán bộ phụ nữ năng nổ, bền bỉ bám dân, bám đất để gieo mầm phong trào cách mạng. Suốt chín năm kháng chiến trường kỳ, dấu chân của bà đã in đậm khắp các chiến trường miền Tây và miền Đông Nam Bộ, từ Rạch Giá đến Phước Long. Giữa muôn trùng gian lao của bom đạn và muôn vàn thiếu thốn nơi chiến khu, bà vẫn lặn lội đi từng ngõ, gõ từng nhà để tuyên truyền, vận động và tổ chức phong trào Phụ nữ Cứu quốc phát triển lớn mạnh. Chính sự mưu trí, gan dạ và tinh thần ái quốc sắt son trong những năm tháng nếm mật nằm gai chống Pháp đã biến người thiếu nữ nông dân ngày nào trở thành một thủ lĩnh phụ nữ xuất sắc, tạo tiền đề vững chắc cho chặng đường đấu tranh đầy khốc liệt bảo vệ non sông ở giai đoạn tiếp theo.
Nếu chặng đường chống Pháp là ngọn lửa tôi luyện đầu đời, thì thời kỳ kháng chiến chống đế quốc Mỹ vào năm 1954 đến năm 1968 chính là đỉnh cao của bản lĩnh, lòng kiên trung và sự hy sinh phi thường của bà Lê Thị Riêng. Sau Hiệp định Giơ-nơ-vơ năm 1954, đứng trước bước ngoặt lịch sử của đất nước, dẫu hoàn toàn có cơ hội được di chuyển ra miền Bắc an toàn để sống một cuộc đời bình yên, bà đã đưa ra một quyết định đầy can trường đó chính là nén lại tình riêng, chấp nhận xa cách gia đình và các con để ở lại miền Nam hoạt động bí mật trong lòng địch. Bước vào giai đoạn khốc liệt này, trên cương vị Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng và Phó Chủ tịch Hội Phụ nữ Giải phóng miền Nam, bà trở thành “linh hồn”, thành ngọn cờ tập hợp các phong trào đấu tranh chính trị sục sôi của tầng lớp phụ nữ, học sinh, sinh viên và quần chúng nhân dân ngay tại sào huyệt Sài Gòn – Gia Định. Dưới nhiều mật danh khác nhau, tiêu biểu là "Hai Liên", bà đã mưu trí, linh hoạt hóa thân vào nhiều tầng lớp xã hội để qua mặt mạng lưới mật thám, an ninh dày đặc của chính quyền Mỹ - Ngụy. Không quản ngại hiểm nguy rình rập trong gang tấc, bà lặn lội khắp các hang cùng ngõ hẻm, trực tiếp xây dựng và củng cố hàng loạt cơ sở cách mạng vững chắc ngay trong lòng đô thị. Từ những khu chợ sầm uất, các xóm lao động nghèo cho đến giảng đường đại học, nơi nào có dấu chân của bà, nơi đó phong trào Phụ vận lại bùng lên mạnh mẽ với những cuộc biểu tình, xuống đường đòi dân sinh, dân chủ, tạo nên những làn sóng chính trị uy hiếp trực tiếp vào cơ quan đầu não của địch.
Giữa lúc phong trào cách mạng miền Nam đang chuyển mình mạnh mẽ chuẩn bị cho những bước ngoặt lịch sử, một biến cố lớn đã xảy ra vào năm 1967 khi bà Lê Thị Riêng không may sa vào tay giặc do có kẻ chiêu hồi phản bội. Biết bà là một trong những nhà lãnh đạo cốt cán, là “linh hồn” của phong trào Phụ vận toàn miền Nam, chính quyền Mỹ - Ngụy đã lập tức cách ly và đưa bà vào chế độ giam cầm nghiêm ngặt nhất. Tại đây, một cuộc đấu trí không cân sức đã diễn ra giữa một bên là bộ máy tra tấn tàn bạo với đủ thứ cực hình dã man, và một bên là người phụ nữ nhỏ nhắn nhưng mang tinh thần thép. Kẻ thù đã dùng mọi thủ đoạn nham hiểm, từ dụ dỗ vinh hoa phú quý, hứa hẹn một cuộc sống nhung lụa để lung lạc ý chí, cho đến những trận đòn roi thấu xương tủy làm chết đi sống lại nhằm khuất phục bà. Thế nhưng, suốt 9 tháng ròng rã bị đày đọa trong ngục tối lạnh lẽo, câu trả lời duy nhất chúng nhận được từ bà chỉ là sự im lặng đầy khinh bỉ và ánh mắt kiên cường của người chiến sĩ cộng sản.
Không chỉ giữ vững khí tiết cho riêng mình, bà Lê Thị Riêng còn biến chính chốn lao tù tăm tối thành một mặt trận chiến đấu mới, một trường học cách mạng để động viên chí khí của các đồng chí cùng cảnh ngộ. Trong những góc tối khuất của xà phòng, bất chấp tai mắt của cai ngục, bà vẫn âm thầm lén lút ghi lại những vần thơ đong đầy cảm xúc vào cuốn sổ tay nhỏ. Đó không chỉ là vũ khí tinh thần sắc bén để nuôi dưỡng niềm tin tất thắng vào ngày độc lập dân tộc, mà còn là nơi người mẹ gửi gắm nỗi nhớ thương vô bờ bến đến hai người con đang gửi học ngoài miền Bắc. Những dòng thơ tự sự đầy da diết, đau đáu ước nguyện "chờ ngày xuân thống nhất để được ôm con vào lòng vỗ về" chính là minh chứng cho thấy vĩ đại về tình yêu Tổ quốc trong bà được xây đắp từ những tình cảm gia đình thiêng liêng nhất. Chính sức mạnh từ hậu phương và niềm tin tuyệt đối vào lý tưởng của Đảng đã giúp bà kiên cường đứng vững qua những chuỗi ngày đen tối, quyết không nửa lời phản bội nhân dân, bảo vệ an toàn cho các cơ sở cách mạng bên ngoài.
Đỉnh cao bi tráng trong cuộc đời của người nữ anh hùng đã diễn ra vào đêm mùng 2 Tết Mậu Thân (ngày 1 tháng 2 năm 1968). Trước sức tấn công như vũ bão và sự trỗi dậy mạnh mẽ của quân và dân ta trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, kẻ thù rơi vào tình trạng hoảng loạn tột cùng và quyết định thực hiện một hành vi hèn hạ, bỉ ổi đó chính là áp giải bà Lê Thị Riêng cùng một số chiến sĩ cách mạng khác đi thủ tiêu bí mật trên con đường Hồng Bàng. Giữa lằn ranh tấc gang của sự sống và cái chết dưới màn đêm tịch mịch, đối mặt với những họng súng đen ngòm đang điên cuồng trút đạn, bà không hề biểu lộ một sự run sợ nào. Bằng bản năng chở che của một người chị, người mẹ và trái tim cao cả của một người đồng chí, bà đã dùng những hơi sức cuối cùng của mình để ngã người, lấy tấm thân gầy guộc hứng trọn làn đạn tàn khốc nhằm che chở và giành lại sự sống cho người đồng đội đi cùng là đồng chí Phùng Ngọc Anh. Khoảnh khắc linh thiêng ấy, khi máu của người nữ anh hùng hòa vào lòng đất mẹ, đã được hậu thế xúc động kết tinh thành những vần thơ bất tử.
"Hồng Bàng đêm ấy đạn cuồng reo,
Khí tiết người kiên trung sáng hiểm nghèo.
Lấy tấm thân gầy che mũi súng,
Nhường dòng nhựa sống độn hoa đeo.
Lời hô vang vọng ngời sông núi,
Đóa hoa Bạc Liêu hóa vĩnh hằng."
Ngay trước khi ngã xuống ở tuổi 43, lời hô vang đanh thép “Hồ Chí Minh muôn năm!” của bà đã xé toạc màn đêm và át cả tiếng súng tàn bạo của kẻ thù. Tiếng hô ấy không phải là sự khép lại của một đời người, mà là một lời tuyên ngôn kiêu hãnh về niềm tin sắt đá vào ngày chiến thắng hoàn toàn, là khúc vĩ thanh kiêu hùng của một cuộc đời trọn vẹn hiến dâng cho nền độc lập. Sự hy sinh oanh liệt của bà đã đổi lấy sự sống quý giá cho người đồng đội – nhân chứng lịch sử duy nhất sống sót để kể lại câu chuyện bi hùng cho hậu thế truyền tai nhau mãi mãi. Tấm gương kiên trung khước từ vinh hoa, sống anh dũng và chết hóa vĩnh hằng của bà Lê Thị Riêng đã tạc vào lịch sử dân tộc một tượng đài bất hủ, khơi dậy niềm tự hào dân tộc và tinh thần yêu nước sâu sắc, đưa tên tuổi bà trở thành một biểu tượng bất tử trường tồn cùng thời gian.
"Chị Riêng vừa là người thủ trưởng của tôi, vừa là đồng chí, người bạn thân nhất của đời tôi. Chị xứng đáng được gọi là Anh hùng, ngay trong những ngày còn sống." Lời khẳng định đầy nghẹn ngào, thành kính và tự hào của bà Đỗ Duy Liên – nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh – không chỉ là tiếng lòng của một người bạn tri kỷ, mà còn là minh chứng lịch sử rõ nét nhất cho một nhân cách lớn, một trái tim vĩ đại đã sống, chiến đấu và hiến dâng trọn vẹn mà không một phút giây vị kỷ. Câu nói ấy đã vượt qua giới hạn của một lời ngợi ca thông thường, để lột tả trọn vẹn một chân lý rằng danh hiệu "Anh hùng" của bà Lê Thị Riêng không phải chỉ được tạo nên sau khoảnh khắc bà ngã xuống, mà nó đã được kết tinh, tôi luyện qua từng ngày từng giờ bà bền bỉ đối mặt với hiểm nguy, hiên ngang trước họng súng ngục tù để bảo vệ đồng đội và bảo vệ lý tưởng của Đảng. Nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ đêm Mậu Thân định mệnh ấy, khi tiếng súng của chiến tranh khốc liệt lùi xa vào quá khứ, máu của Anh hùng, liệt sĩ Lê Thị Riêng đã hòa quyện sâu sắc vào lòng đất mẹ Nam Bộ để ươm mầm cho màu xanh hòa bình, độc lập hôm nay. Giờ đây, ngay tại tọa độ đau thương nơi bà từng anh dũng ngã xuống, một công viên mang chính tên bà đã mọc lên xanh ngát, tràn đầy sức sống giữa lòng Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh sầm uất và năng động. Ngôi mộ danh dự của bà nằm tĩnh lặng dưới bóng cây đài tưởng niệm trang nghiêm, không chỉ là nơi để nhân dân khắp mọi miền đất nước đến dâng hương bày tỏ lòng thành kính sâu sắc, mà còn trở thành một khoảng lặng lịch sử vô cùng thiêng liêng, nhắc nhở dòng người hối hả ngược xuôi về cái giá xương máu của mỗi phút giây tự do. Tên tuổi của bà cũng được trân trọng tạc lên rất nhiều con đường huyết mạch, nhiều ngôi trường khang trang trên khắp dải đất hình chữ S, biến cuộc đời 43 năm ngắn ngủi nhưng rực rỡ của người con gái Bạc Liêu thành một biểu tượng bất tử, trường tồn cùng năm tháng và sống mãi trong ký ức, trong tâm khảm của hàng triệu người con Việt Nam.
Thế nhưng, đằng sau tượng đài trang nghiêm kiêu hãnh và không gian rợp bóng cây xanh mang tên người nữ anh hùng, vẫn còn đó một nỗi đau đau đáu, một nốt trầm khôn nguôi khi phần mộ đích thực cùng hình hài ngọc đá của bà cho đến nay vẫn chưa được tìm thấy. Trải qua gần 6 thập kỷ thăng trầm của lịch sử với biết bao biến động của thời gian và sự thay đổi sâu sắc của quy hoạch đô thị, nấm mồ nơi kẻ thù lén lút vùi lấp thi thể bà cùng các đồng chí trong đêm mùng 2 Tết Mậu Thân vẫn hoàn toàn nằm trong màn sương mờ mịt của quá khứ [tr, tr]. Dẫu trong các chiến dịch quy tập quy mô lớn tại khu nghĩa địa Đô Thành xưa – nay chính là lòng đất Công viên Lê Thị Riêng – lực lượng chức năng đã miệt mài đào xới từng tấc đất đỏ, bóc tách từng mét sâu để tìm thấy hàng trăm hài cốt liệt sĩ vô danh, nhưng hình hài cốt nhục của người con gái Bạc Liêu ấy vẫn chưa thể xác định danh tính cụ thể. Ngôi mộ hiện tại giữa lòng thành phố sầm uất thực chất chỉ là một ngôi mộ danh dự, một biểu tượng tâm linh tôn nghiêm để hậu thế gửi gắm lòng thành kính, còn xương máu của bà vẫn đâu đó hòa vào cát bụi, lẩn khuất sâu thẳm dưới những rễ cây, tán lá xanh rì. Nỗi đau ly biệt ấy cứ âm ỉ qua năm tháng, trở thành niềm khắc khoải khôn nguôi trong lòng người con trai út là ông Lê Chí Công – người đã dành gần nửa cuộc đời rong ruổi, lặng lẽ thắp từng nén nhang bên những rãnh đào ngổn ngang với niềm hy vọng cháy bỏng được đón mẹ về. Đó không chỉ là giọt nước mắt riêng của một gia đình bị chiến tranh chia cắt, mà còn là một món nợ ân tình sâu nặng mà thế hệ hôm nay vẫn luôn đau đáu đi tìm câu trả lời, gửi gắm niềm cầu nguyện để một ngày không xa, linh hồn người mẹ kiên cường sẽ được trở về trong vòng tay trọn vẹn của đất nước, của quê hương. Hàng nay, những người dân trên khắp mọi miền đều hằng ngày cầu mong bà có thể về với gia đình thân yêu của mình. Thấu hiểu nỗi đau ly biệt của hàng vạn gia đình, Nhà nước ta đã chính thức phát động Chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ (diễn ra từ ngày 15/3/2026 đến ngày 27/7/2027), tạo nên một cuộc hành trình vô cùng thiêng liêng để đưa các anh hùng trở về. Chiến dịch mang tầm vóc quốc gia này đã huy động những công nghệ hiện đại nhất cùng sự nỗ lực vượt bậc của toàn xã hội, tính đến nay đã tìm kiếm và quy tập được hơn 3.895 hài cốt liệt sĩ trên khắp các mặt trận. Đặc biệt, ngay tại "tọa độ đỏ" Công viên Lê Thị Riêng – nơi trước đây từng là nghĩa địa Chí Hòa – Chợ Quán xưa và là nơi kẻ thù vùi lấp thi thể của bà cùng đồng đội trong đêm Mậu Thân-chiến dịch đã tìm thấy và cất bốc tổng cộng 846 bộ hài cốt liệt sĩ nằm sâu dưới lòng đất. Vào ngày 14/10/2026 vừa qua, một buổi lễ truy điệu và an táng trang nghiêm đã được long trọng tổ chức để đưa 731 hài cốt đợt một về nơi yên nghỉ đời đời tại Nghĩa trang Liệt sĩ Thành phố Hồ Chí Minh. Dẫu hình hài cốt nhục của người con gái Bạc Liêu Lê Thị Riêng vẫn chưa thể xác định danh tính cụ thể trong số các anh linh được tìm thấy, nhưng nỗ lực phi thường của chiến dịch 500 ngày đêm chính là lời khẳng định sắt son cho đạo lý "Uống nước nhớ nguồn" của dân tộc. Từng tấc đất được lật lên, từng ngôi mộ vô danh được lấy mẫu ADN đối chiếu không chỉ là để xoa dịu nỗi khắc khoải gần 60 năm của người con trai út Lê Chí Công, mà còn là lời hứa danh dự của đất nước: quyết không để người con anh hùng nào phải gửi thân xác lạnh lẽo nơi đất khách, biến món nợ ân tình của hậu thế thành hành động tri ân trọn vẹn nhất. Hành động đã giúp cho gia đình bà thắp sáng niềm tin và cũng cho những gia đình khác có thêm hi vọng về việc chờ người thân yêu của mình trở về.
Cuộc đời hoạt động cách mạng kiên cường và sự hy sinh oanh liệt của Anh hùng Lê Thị Riêng chính là ngọn đuốc rực sáng soi đường, để lại những bài học kinh nghiệm vô giá cho các thế hệ hôm nay và mai sau bước tiếp. Tấm gương kiên trung khước từ mọi vinh hoa phú quý, một lòng giữ vững khí tiết kiêu hãnh nơi ngục tù tăm tối và sẵn sàng lấy thân mình che chở trước họng súng quân thù đã khơi dậy niềm tự hào dân tộc sâu sắc cùng tinh thần yêu nước son sắt trong lòng tuổi trẻ. Từ cuộc đời của bà, thế hệ hôm nay nhận thức sâu sắc bài học về sự lựa chọn lý tưởng sống: biết đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân lên trên hết, sẵn sàng gác lại những cám dỗ vật chất tầm thường và tình cảm cá nhân vị kỷ để cống hiến cho đại cục. Đó còn là bài ca về tinh thần đồng chí, đồng đội cao cả, bài học về tình yêu thương con người và trách nhiệm chở che cho nhau trong những thời khắc gian nguy nhất của cuộc đời. Đứng trước không gian hòa bình, tự do hiện tại – nền độc lập được đánh đổi bằng máu xương và cả những nấm mồ chưa tìm thấy lối về – thế hệ trẻ hôm nay nguyện tiếp bước ngọn lửa tinh thần ái quốc của bà, biến lòng biết ơn thành những hành động thiết thực. Tuổi trẻ Việt Nam sẽ không ngừng tự rèn luyện bản lĩnh chính trị, ra sức học tập, sáng tạo, làm chủ công nghệ, tích cực lao động và sẵn sàng dấn thân vào những nơi gian khó để dựng xây quê hương ngày càng giàu đẹp, phồn vinh, bảo vệ vững chắc non sông gấm vóc mà các bậc tiền nhân đã dày công gìn giữ. Đóa hoa thép của vùng đất Bạc Liêu đã mãi mãi hóa vĩnh hằng vào hồn thiêng sông núi, nhưng lòng trung trinh, bài học kinh nghiệm kiên cường và tình yêu Tổ quốc vĩ đại của bà sẽ luôn là bài ca bất tử, ngân vang mãi, soi rọi lý tưởng sống cho muôn đời hậu thế.


