SỐNG CÙNG ĐẢNG CHẾT CÙNG ĐẢNG
viết về cuộc đời của người phụ nữ tên Lê Thị Ngoan, người phụ nữ với 77 năm cuộc đời và 54 năm tưởi Đảng
Trong bài thơ "Ba mươi năm đời ta có Đảng" của nhà thơ Tố Hữu có đoạn:
"Sống cùng Đảng chết không rời Đảng
Tấm lòng son chói sáng ngàn thu
Mặt trời có lúc mây mù
Trái tim kia vẫn đỏ bầu máu tươi"
Tôi cảm nhận bốn câu thơ trên như thể đã quyện vào đời một người phụ nữ Khánh Hòa có 77 năm cuộc đời, 54 năm tuổi Đảng. Đó là bà Lê Thị Ngoan, tên khác Lê Thị Tư, tên thường gọi cô Tư Ngoan, sinh ngày 14.04.1914, ở xã Khánh Hòà, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang trong một gia đình nông dân nghèo. Năm 1933, khi ấy bà mới 19 tuổi đã theo Đảng làm cách mạng, nếm trải đủ mùi đòn roi, tù đầy gian khổ, kinh qua 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ. Bà chỉ biết có Đáng, có các đồng chí, làm bất kỳ việc gì tố chức giao cho và làm tốt. Đất nước độc lập, thống nhất thì bà đã tuổi cao sức yếu, rồi bà mãn nguyện ra đi trong vòng tay của những người đồng chí - lớp con cháu ở Ban Tổ chức Tỉnh ủy An Giang.
Vừa lớn lên bà đã chứng kiến những người nông dân quê mình bị một cổ hai tròng áp bức. Bọn thực dân Pháp bóc lột bằng thuế má, lao dịch. Thuế thân. người đương thời coi đó là một thứ thuế súc vật. Có gia đình ba, bốn người trong hạn tuổi đóng thuế nhưng chỉ đủ tiền đóng cho một người, những người còn lại phải sống "lậu". Không năm nào không diễn ra cảnh vây ráp, bắt bớ, đánh đập, bỏ tù những người "trốn sưu, lậu thuế". ". Bọn địa chủ thì bóc lột bằng tô tức, cống vật, lao động không công, cho vay nặng lãi... Người nông dân làm ra lúa gạo nhưng luôn bị cái đói đe dọa. Năm nào bị thiên tai mất mùa thì phải ăn bông súng, củ co hoặc cầm cố đất đai, vay mượn rồi chịu cảnh "con ở đợ, vợ ở vú" để trừ nợ. Sưu, thuế, tô, tức, đổi nghèo, bệnh dịch, dốt nát... luôn ám ảnh dày vò kiếp sống người nông dân. Gia đình bà mấy đời đều là nông dân, ba má sinh được hai chị em gái nhưng đói nghèo, bệnh tật mà mất. Chị Hai phải làm lụng vất vả để nuôi em; trước cảnh đó làm sao không đau lòng, nhưng tìm cách nào thoát ra cảnh đó thì chưa có cách.
Năm 1930, Đảng cộng sản Việt Nam ra đời thì lúc này phong trào cách mạng quê bà cũng được nhem nhúm. Chị hai Lê Thị Nhiên tham gia cách mạng rồi thoát ly gia đình. Nhớ mỗi lần chị Hai ghé qua nhà, hai chị em ngủ chung, chị thường chỉ dạy nhiều điều, chị nói nhiều đến Đảng cộng sản lãnh đạo giai cấp công nhân, tập hợp mọi tầng lớp công-nông-binh-trí, không phân biệt nam nữ để làm cách mạng, đánh đổ thực dân, phong kiến, giành độc lập tự do cho Tổ quốc, giành cơm no áo ấm cho người nghèo. Lời chị Hai bà nhớ mãi, định bụng có ngày sẽ đi theo chị Hai. Giữa năm 1932, chị hai Nhiên bị bắt về tội làm quốc sự. Đến đầu năm 1933, có người của tổ chức về làng, bà năn nỉ cho đi theo để trả thù cho chị Hai, các anh đồng ý. Ngày 20.2.1933, một sáng xuân trời xanh biếc, bà lên đường đi làm cách mạng. Thấy còn nhỏ, các anh giao làm công tác hậu cần và tranh thủ học văn hóa, học phương pháp đấu tranh ... Thế là từ buổi sáng xuân đẹp trời ấy cho đến cuối đời bà chỉ biết có cách mạng, có Đảng, phấn đấu hy sinh không ngơi nghỉ.
Trong 43 năm công tắc liên tục, bà được Đáng tin tưởng giao nhiều nhiệm vụ: Công tác hậu cân và giao liên (1933-1936). Về tỉnh lỵ Long Xuyên xây dựng cơ sở cách mạng củng cố tổ chức Đảng (1937-1938). Về Châu Đốc công tác ở Liên huyện ủy Châu Phú-Tịnh Biên (1938-1939). Về Tân Châu, đi Vĩnh Long rồi bị định bất cầm tù 6 năm (10.1939 - 4.1945). Ra tù tham gia khởi nghĩa cướp chính quyền ở tỉnh ly Châu Đốc (1945). Được cử làm Tỉnh ủy viên lâm thời củng cố tổ chức Đảng ở Châu Đốc (1946-1947). Cán bộ mặt trận Hà Tiên, Long Châu Hà (1948 -1953). Giao liên đặc biệt của Tỉnh ủy (1953-1966). Công tác Việt Kiều ở Vung Trác, Campuchia (1967-1971). Công tác binh vận rồi về làm cán bộ, làm cấp dưỡng của Ban tổ chức Tỉnh ủy (1972-1976). Được giao nhiệm vụ gì bà cũng vui vẻ chấp hành. Quen lăn lộn với giới mua gánh, bán bưng để xây dựng cơ sở nên khi lớn tuổi được giao làm cấp dưỡng cho Tỉnh ủy bà vẫn vui vẻ làm tốt. Tuy nhiên bà từng có những thời kỳ hoạt động rất sôi nổi, đạt thành tích đáng kể, được lịch sử ghi nhận và những người cùng thời truyền miệng.
Trong lịch sử đảng bộ thị xã Long Xuyên có 1 số đoạn viết về bà nhưng vợ chồng ông Tám Thiên, bà Đáp vợ ông Nguyễn Bá... đã kể về bà nhiều hơn. Đó là vào giữa năm 1937, sau khi được kết nạp đảng rồi dự khóa huấn luyện chính trị ở Chợ Mới, Liên tỉnh ủy Long Xuyên phái bà và một số đồng chí về tỉnh lỵ Long Xuyên xây dựng cơ sở. Là cô gái quê mới 23 tuổi ra tỉnh, thấy phố xá cái gì cũng mới, cũng lạ, thật bỡ ngỡ... nhưng nhờ quen lao động vất vả giúp ba má việc ruộng rẫy nên bà dễ làm quen với cách sống mới. Cũng đôi quang gánh trên vai, quẩy đồ ăn nấu sẵn ra chợ Long Xuyên bán như mọi người, bà hòa nhập vào giới mua gánh bán bưng , tiểu thương trong chợ. Từ làm quen xây dựng thành cơ sở một, hai người ban đầu, dần dần nhân rộng thành bốn rồi tám người, cứ thế không bao lâu bà xây dựng được hàng chục cơ sở. Bà chọn những người tích cực cho thử thách để kết nạp Đảng. Bà cùng với các đồng chí Nguyễn Ngọc Hưởng, Trần Hoàn, Phát, Nhuận, Nỉ ... thành lập được chị bộ tỉnh lỵ vào cuối năm 1937. Giữa năm 1938, cơ sở Long Xuyên khá vững, Liên tỉnh ủy điều bà về tỉnh Châu Đốc, bổ xung cho Liên huyện ủy Châu Phú - Tịnh Biên. Bà lại lăn lộn trong giới tiểu thương, mua gánh bán bưng ở chợ Châu Đốc xây dựng cơ sở, xây dựng phong trào. Ở Long Xuyên cũng như Châu Đốc, sau khi xây dựng được cơ sơ, bà vận động và lãnh đạo bà con trong giới mình đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ, đòi nam nữ bình quyền, đòi giảm thuế... Lần đấu tranh sôi nổi, hiệu quả hơn cả là ở chợ Long Xuyên vào giữa năm 1937, bà đã lãnh đạo giới mình và cá nhiều quần chúng khác tham gia bãi thị nhiều ngày, buộc địch phải nhượng bộ, giảm thuế cho bà con. Lần đầu tiên đấu tranh thẳng lợi, bà cảm nhận được sức tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng. mạnh của sự đoàn kết, sức mạnh của nhân đan và càng tin tưởng vào Đảng.
Về Châu Đốc không lâu thì bị mật thám theo dõi. Đầu năm 1931, biết bà bị lộ, cấp trên điều sang Liên huyện ủy Tân Châu - Hồng Ngự. Tính chuyển vùng cắt đuôi mật thấm nhưng không lâu chúng lại phát hiện, cấp trên điều tiếp đi Vĩnh Long tránh né. Ở Vĩnh Long chúng cũng tìm ra. Tháng 10.1939, bà bị địch bắt. Bọn chúng trói thúc ké hai cánh tay lại, quăng lên xe bịt kín, chở về khám lớn Châu Đốc. Những ngón đòn điện giật, ghim kim cúc vào khe móng tay, treo ngược chân lên tường cho đi máy bay, cho đi tàu ngầm, đổ nước xà bông vô mũi, ba trắc đánh vào mắt cá, gan bàn chân,... bà đều nếm trải. Nhưng, trước sau bà chỉ nhận là người làm ăn buôn bán, không khai ra một đồng chí, một cơ sở nào. Chúng tra tấn khai thác không được gì, đành chuyển đi khám Long Xuyên. Ở đây bà chịu đòn của cò BaZin, xếp Hiến,... vẫn không kết quả mặc dù chúng biết bà hoạt động bí mật chống mẫu quốc Pháp. Chúng chuyển tiếp về Sài Gòn rồi đày ra Bà Rá ăn gạo mục, cá thối... trăm bề cực khổ. Đầu năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, các đồng chí phá ngục thoát ra. Bà theo các bạn tù vượt rừng, tìm đường về quê. Về tới nhà, bà cùng chị hai Nhiên (cũng vừa ở tù ra) đi móc nối với các đồng chí khác xây dựng cơ sở, lãnh đạo quần chúng chuẩn bị lực lượng, vũ khí ... để tổng khởi nghĩa cướp chính quyền ở Châu Đốc.
Cách mạng Tháng Tám thành công. Bà công tác trong Hội Phụ nữ cứu quốc do chị hai Nhiên lãnh đạo, tiếp chị Hai in ấn tờ báo "Anh thư" của phụ nữ. Khi đó in thủ công bằng xu xoa, vậy mà vẫn phát hành hàng tháng. Công việc bận rộn túi bụi nhưng mà vui, vì chị em phụ nữ rất thích tờ báo này. Niềm vui độc lập chưa thỏa thì đầu năm 1946, Pháp chiếm Châu Đốc lần thứ hai. Các cơ quan Đảng, chính quyền non trẻ của ta phải rút lui, tránh né sự lùng sục khủng bố của thực dân Pháp và tay sai. Khi tình hình đã bớt căng thẳng, bà cùng một số cán bộ, đảng viên khác dần dần tập hợp lại gây dựng tổ chức Đảng và chính quyền các cấp. Tỉnh ủy lâm thời tỉnh Châu Đốc được lập lại. Đồng chí Nguyễn Ngọc Bồi (Tám Dưa) làm bí thư, chị hai Nhiên và bà đều là tỉnh ủy viên phụ trách phụ vận, đoàn thể tỉnh. Ở cương vị mới, bà thường bám sát cơ sở để gầy dựng phong trào ủng hộ kháng chiến. Những chuyến đi công tác này đã không ít lần gặp khó khăn nguy hiểm. Bà tám Thành kể lại có lần bà về xã Thường Thới, gặp lúc bọn Hòa Hảo phản động nổi lên trả thừ trả oán. Chúng đang bắt một số đồng chí của ta để thủ tiêu, bà liền ra can thiệp. Thế là chúng bắt luôn bà, lấy dây thừng trối thúc ké hai tay quặt ra sau, lôi ra sông định quăng xuống cho đi "mò tôm". Bà la lớn đấu tranh lý lẽ với chúng, không tỏ ra một chút sợ hãi. Trước những lời nói cứng cỏi của một phụ nữ bọn chúng lựng khựng chưa biết tính sao thì vừa may có một ông chức sắc Hòa Hảo quen biết đến nói hộ, bọn chúng thả ra. Bà còn xin cho cả số anh em khác thoát nạn.
Gần 20 năm xốc vác gây dựng phong trào, cùng ăn, cùng ở, cùng làm bám sát quần chúng nên bà đã giáo dục, xây dựng được gần 250 cơ sở cách mạng, kết nạp được một số đảng viên như Tám Thiên, Tư Đại... Giới thiệu cho Đảng những cán bộ trung kiên, những binh sỹ tốt hoạt động bí mật trong lòng địch, những thanh niên gan dạ bổ xung cho tổ chức hoạt động bí mật và lực lượng vũ trang. Trong số này có cả thanh niên việt kiều Campuchia và nhiều đồng chí sau này đã trở thành cán bộ lãnh đạo, cán bộ cốt cán trong kháng chiến và hòa bình.
Công tác cách mạng bà luôn tận tụy, hoàn thành thế nhưng chuyện đời tư của bà thì buồn tẻ, chẳng có gì. Sáu năm tù đày ở ngay cái thời con gái đẹp nhất đã cướp đi của bà sức sống thanh xuân. Hơn nữa, hàng chục năm hoạt động bí mật, muôn vàn hiểm nguy luôn rình rập, bất kể ngày đêm; vừa lo làm tròn nhiệm vụ, vừa lo đối phó với bất trắc, chẳng còn đâu thời gian nghĩ cho mình. Khi đã lớn tuổi, tổ chức giới thiệu và đứng ra làm đám cưới gả chồng cho bà một lần. Thật bất ngờ, mới một tuần sau bà chia tay với người ta rồi ở vậy đến cuối đời, ai nói gì bà cũng để ngoài tai.
Năm 1976, tổ chức cho bà nghỉ hưu. Ở tuổi 62 không chồng con, không gia đình, người thân (chị hai Nhiên đã hy sinh năm 1948). Còn một mình trên cõi đời lại luôn bịnh hoạn, bà nhận một bé gái con của một gia đình cơ sở nghèo trước đây về nuôi để hủ hỉ tuổi già, thế nhưng khi lớn lên cô mắc bệnh không thể hương khói phụng thờ. Ban Tổ chức Tỉnh ủy mới chính thức là gia đình bà, chăm sóc bà miếng ăn chốn ở, bệnh hoạn từ ngày nghỉ hưu cho tới ngày mất (1991). Ngày bà ra đi làm ma chay, an táng đủ lễ. Hàng năm đều làm đám giỗ đàng hoàng, tưởng nhớ bậc tiền bối một đời cống hiến cho Đảng, cho nước, cho dân.
Trong đội quân tóc dài của tỉnh An Giang, không ít những phụ nữ tiêu biểu nhưng ở hoàn cảnh cô Tư Ngoan thì thật hiếm, chỉ có thể mượn câu thơ Tố Hữu tặng cô:
Sống cùng Đảng, chết không rời Đảng.



