Sông Hồng chiều chưa xa
Em muốn hai đứa đi ra mạn sông Hồng rồi men theo đê về nội đô. Anh gật đầu. Sông Hồng mùa này nước trải mênh mông. Phù sa trong lòng nước. Phù sa trong mắt em. Chiều muộn. Ánh thần quang bên kia sông đang hắt lên những dẻ quạt màu tím đỏ cuối cùng để chuẩn bị biến mất vào hư vô...
Chiều ở đâu cũng buồn. Chiều chiến tranh càng buồn. Buồn man mác.
Một buổi chiều như thế, vào cuối những năm sáu mươi, chàng trai và cô người yêu vốn được coi là hoa khôi trường Trưng Vương của anh làm một cuộc píc-níc ra ngoại thành lần cuối để ngày mai anh lên đường vượt Trường Sơn ra trận.
|
Sông Hồng. Ảnh tư liệu |
Chao ôi, Hà Nội những năm sơ tán mới ắng lặng và kiêu hãnh làm sao! Như thể cái cảnh vườn không nhà trống của một thời ông cha ta đánh giặc xa xa lại thăm thẳm hiện về. Thăng Long phi chiến địa mà sao hôm nay đất rồng bay lại có lắm bom đạn mang ý đồ hủy diệt của một thế lực hắc ám ở bên kia biển Thái Bình giội xuống triền miên thế này. Thành phố vô thanh. Thành phố phập phồng. Nghe được cả tiếng gió lao xao thổi trên những vòm sấu, tiếng lá rơi khe khẽ xuống mặt đường. Cả Hà thành chỉ còn lẩn khuất bóng những nam nữ tự vệ vận đồ xanh công nhân có ngôi sao vuông gắn trên vành mũ đan qua đan lại bên những hố tránh bom cá nhân bằng bê-tông đúc sẵn nằm dọc hai bên hè phố. Tất cả những ngôi nhà đều im lìm cửa đóng then cài với những dòng chữ trắng viết vội mà mãi về sau nhớ lại lồng ngực vẫn cứ còn thắt bóp đến nghẹn ngào: “Mẹ đi vắng, nếu về, con nhớ sang bác Hòa lấy chìa khóa...” hoặc: “Anh ơi! Em và các con đi sơ tán xa, nếu về anh hãy tìm đến xóm, xã...”.
Trong cảnh sắc ấy, họ đèo nhau trên một chiếc xe đạp cà tàng của ông bố chàng trai cũng đi sơ tán có ý để lại cho con trai sử dụng những ngày cuối cùng trước lúc đi xa. Hồi đó đã nhà nào có xe máy. Nếu ai có một chiếc xe đạp không đến nỗi tồi thì đã là sang lắm rồi, đã phải nâng niu, giữ gìn như bảo vật rồi. Họ đi. Đi thật chậm, đi như đi lần cuối, đi như thể thu hết trời thu Hà Nội vào lòng. Thỉnh thoảng lại một giọng con gái đều đều cất lên trên loa như tiếng vọng vang trầm tĩnh, bền bỉ của lịch sử: “Máy bay địch đã đến gần... Máy bay địch đã bay xa... Xin đồng bào hãy chú ý...”. Có lúc tiếng loa đó đã đẩy hắt họ xuống hố phòng không. Hố chật, thành bê-tông nóng hầm hập, hai thân hình trai trẻ áp sát vào nhau cũng nóng hầm hập, trái tim người này ở bên phải ngực người kia. Bom đạn nôn nao hay thân thể em nôn nao mà cứ khiến đầu óc người lính trở nên quá đỗi lênh loang dường này! Bom bắt đầu nổ. Bom nổ gần nghe nhỏ, bom nổ xa nghe lớn. Cả Hà Nội chao nghiêng. Cả bầu trời chao nghiêng. Đôi mắt em cũng chao nghiêng về phía ai! Chao ôi, tiếng bom và cái chết rình rập càng làm cho ánh nhìn nơi em thêm nồng nàn. Gò má em hơi nhợt đi như có một làn gió lạnh từ đâu thoắt tràn về. Anh ghì sát vào em như để chở che, yên ủy. Em nhắm mắt lại. Một bờ mi rợp bóng. Một nụ hôn dài, ẩm ướt như chưa bao giờ có thể dài đến thế. Tình yêu đã thắng lướt đạn bom. Má em hồng trở lại, em nguẩy đầu ra như bị tắc thở, tiếng nói con gái Hà Nội như có hương cốm ẩn bên trong: “Như trong phim ý anh nhỉ?”. Anh mỉm cười gật đầu. Anh hiểu em muốn nói đến bộ phim “Khi đàn sếu bay qua” xúc động đến nghẹn lòng hai đứa mới xem tuần trước.
Hết bom. Họ lại đi. Tóc tai lầm bụi trắng. Một chiếc xe tên lửa tự hành phóng ngược chiều. Có những ánh mắt lính trẻ nhìn theo họ vừa tinh nghịch vừa như có chút ghen tỵ. Anh nhìn trở lại, như muốn nói: “Thông cảm nhé các chiến hữu! Chỉ chiều nay thôi, ngày mai tôi cũng vào trận như các chiến hữu rồi”.
Xe bon qua hồ Thủ Lệ lăn tăn sóng nước, mới chỉ là hồ chứ chưa phải là Công viên Thủ Lệ có muôn loài cầm thú như bây giờ, rồi thả dốc xoải vào Ô Cầu Giấy, một cửa ô ở phía tây thành phố. Hà Nội năm cửa ô nhưng có lẽ cái cửa ô này là cửa ô rộn ràng nhất vì mỗi buổi chiều thứ bảy, các giai nhân tài tử từ các khu văn công tỏa về nội thành làm cuộc nghỉ cuối tuần mà nếu để ý ta thấy có cả bóng dáng của những tài danh nghệ thuật một thời: Quốc Hương, Ngô Y Linh, Ngọc Dậu, Đoàn Dũng, Đoàn Lê, Tâm Chính, Trọng Khôi, Trà Giang, Lâm Tới...
Bỗng thấy đói bụng, mà cũng xế chiều rồi, họ dừng lại tìm một cửa hàng ăn mậu dịch ghé vào. Gọi là cửa hàng ăn cho oai nhưng nhìn qua nhìn lại chỉ có món bánh bao rắn đanh như cục gạch có thể thay đá ném chó, hoặc khá hơn là món mì “không người lái” tức là một thứ mì trong leo lẻo chả có hành mỡ, thịt thà gì thả vào. Rất tự nhiên, chẳng ngượng ngùng, cũng không cần tỏ ra ga lăng, anh hỏi cô còn tiền không? Cô bảo còn hai hào, hai hào hồi đó cũng được lắm, tương đương như hai nghìn đồng bây giờ. Anh nói anh cũng còn một hào rưỡi. Thế là đủ cho hai tô mì bốc khói. Đó là tô mì mà cho đến mãi sau này cả hai chưa bao giờ được ăn lại một cách ngon lành như thế. Ăn bên nhau, ăn khi đang yêu, ăn trước lúc vào trận, ăn trong chiều chiến tranh, thử hỏi có món sơn hào hải vị nào có thể so sánh được với nó!
Ăn xong, mì mặn chát, mỗi người tranh thủ uống đầy một bụng nước chè “Chín hào ba” nhằng nhặng, tức là loại chè bình dân chín hào có thể mua được ba gói rồi lại đi tiếp. Em muốn hai đứa đi ra mạn sông Hồng rồi men theo đê về nội đô. Anh gật đầu. Sông Hồng mùa này nước trải mênh mông. Phù sa trong lòng nước. Phù sa trong mắt em. Chiều muộn. Ánh thần quang bên kia sông đang hắt lên những dẻ quạt màu tím đỏ cuối cùng để chuẩn bị biến mất vào hư vô. Ngày ấy cố thi sĩ Lưu Quang Vũ chưa có câu thơ thật hay về nó: “Se sẽ chứ cánh buồm bay đi mất...” nhưng cả hai vẫn cảm nhận được tận cùng cái cô liêu, ảo huyền, dễ vỡ của một hoàng hôn đang buông nhẹ vào sông.
Đến một đoạn vắng nhất, em chợt giật khẽ áo anh, tiếng nói như là bối rối: “Anh... anh ở trên này trông xe, em xuống dưới kia em đi... ấy một cái”. Hiểu ý, anh mỉm cười, đứng xây lưng lại phía em, mặt quay về hướng mặt trời, phanh ngực áo như một hiệp sĩ thánh chiến đang bảo vệ cho cái đẹp đang... ấy ở dưới kia.
Chỉ thế thôi, vâng, chỉ một hình ảnh, một câu nói, một động từ giàu nữ tính thế thôi mà người lính đã giữ gìn, nâng niu, mang theo vào hành trang ra trận như một sức đỡ nâng, một sự níu gọi, một điểm tựa tinh thần khó có gì thay thế được để đi trọn được cuộc chiến tranh dặc dài, khốc liệt.
Hình ảnh châng lâng lãng mạn của một chiều chiến tranh nơi hậu phương xa ngái có dòng sông thẳm sâu hồn dân tộc, dòng sông man mác hai bờ ngô, mía chảy trong mắt em, chảy trong nỗi nhớ, chảy suốt dặm dài chiến trận để rồi sau đó mười năm trở về, không đợi chờ được mà làm sao có thể đợi chờ khi em đẹp thế, không sao, vẫn xin cảm ơn em, chính nhờ hình ảnh em và những câu nói dịu ngọt đến thắt lòng thắt dạ của em mà tôi đã đủ sức vượt qua những cánh rừng ẩm ướt, tàn độc, để có thể tạm làm một người cầm súng tử tế.




