Khác

SỰ CHUYỂN HƯỚNG CHỈ ĐẠO CHIẾN LƯỢC CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG. CUỘC KHỞI NGHĨA BẮC SƠN VÀ ĐỘI DU KÍCH BẮC SƠN

Tháng 9 năm 1939, cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra đã chấm dứt thời kỳ vận động dân chủ rộng lớn của nhân dân ta do Đảng ta lãnh đạo. Một thời kỳ đấu tranh mới của cách mạng Việt Nam bắt đầu. Đó là thời kỳ «Đổi đế quốc chiến tranh ra nội chiến, đổi chiến tranh cướp bóc ra chiến tranh cách mạng, đánh đổ đế quốc chủ nghĩa, dựng chính quyền cách mạng, tuyên bố ra khỏi đế quốc chiến tranh»(1).

29/03/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ
Ngày 3 tháng 9 năm 1939, tức là hai ngày sau khi phát-xít Đức tấn công Ba Lan, đế quốc Anh và Pháp tuyên chiến với phát-xít Đức. Ngay sau khi xông vào vòng chiến, đế quốc Pháp liền thẳng tay đàn áp Đảng cộng sản Pháp và phong trào dân chủ, tiến bộ ở Pháp cũng như ở các thuộc địa của Pháp.

Ở Đông Dương, thực dân Pháp thi hành chính sách phát-xít vô cùng tàn bạo. Về chính trị, chúng ra sức đàn áp và khủng bố Đảng cộng sản Đông Dương và các tổ chức cách mạng của nhân dân Đông Dương. Về quân sự, chúng tăng cường bất lính, xây thêm sân bay, pháo đài, lập xưởng đúc đạn, thực hiện cái gọi là «tăng cường phòng thủ Đông Dương». Về kinh tế, chúng tăng sưu thuế, trưng thu, trưng dụng, mở quốc trái, lạc quyên... thực hành chính sách «kinh tế chỉ huy». Tất cả những chính sách trên đây của thực dân Pháp là nhằm tiêu diệt phong trào cách mạng Đông Dương, để giữ lấy thuộc địa Đông Dương, và để bóc lột nhân dân ta đến tận xương tủy phục vụ cho chiến tranh. Các giai cấp và tầng lớp trong xã hội Việt Nam lúc đó đều chịu ảnh hưởng tai hại của chính sách kinh tế chiến tranh của thực dân Pháp. Do đó nhiều cuộc đấu tranh đòi duy trì mức sinh hoạt của công nhân đã giành được trong thời kỳ Mặt trận Dân chủ, các cuộc đấu tranh chống sưu cao, thuế nặng, chống bắt phu và bắt lính của nông dân và các tầng lớp khác, đã nổ ra ở nhiều nơi trong cả nước.

Đứng trước những chuyển biến mới của tình hình thế giới và trong nước, tháng 11 năm 1939 Trung ương Đảng cộng sản Đông dương đã họp hội nghị lần thứ sáu để quyết định những chủ trương, chính sách mới cho phù hợp. Hội nghị nhấn mạnh giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng Đông Dương, quyết định mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất lấy tên là Mặt trận dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương để tập trung lực lượng chống đế quốc xâm lược và bè tũ tay sai của chúng. Hội nghị đã xác định trách nhiệm của Đảng là «Dự bị những điều kiện bước tới bạo động làm cách mệnh giải phóng dân tộc»(2), và quyết định phát triển đội tự vệ thật đông đảo và rộng khắp để tiến tới xây dựng «Quốc dân cách mệnh quân»(3).

Hội nghị lần thứ sáu của Trung ương Đảng cộng sản Đông Dương đã thấy rõ mâu thuẫn giữa nhân dân Đông Dương với đế quốc xâm lược là mâu thuẫn chủ yếu. Từ đó Hội nghị quyết nghị phải kiên quyết giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, tập trung ngọn lửa cách mạng Đông Dương vào đế quốc xâm lược. Quyết nghị của Hội nghị lần thứ sáu của Trung ương Đảng đánh dấu bước chuyển hướng đúng đắn về chỉ đạo chiến lược cách mạng và mở ra một thời kỳ đấu tranh mới của cách mạng Việt Nam.

Chiến tranh giữa các tập đoàn đế quốc ngày càng lan rộng và ác liệt. Ngày 10 tháng 5 năm 1940 quân đội phát xít Đức mở cuộc tiến công vào Pháp. Chỉ trong vòng một tháng, đế quốc Pháp đã phải đầu hàng, một chính phủ bù nhìn tay sai Đức được thành lập ở Vi-si do tên thống chế Pê-tanh phản bội dân tộc Pháp cầm đầu. Nhân cơ hội đế quốc Pháp thua phát xít Đức tháng 9 năm 1940, phát xít Nhật nhảy vào xâm chiếm Đông Dương, miếng mồi béo bở mà chúng đã dòm ngó từ lâu. Thực dân Pháp vội vã đầu hàng, dâng Đông Dương cho phát xít Nhật. Nhưng, nhân dân Việt Nam bất khuất đã nổi dậy chống cả Nhật lẫn Pháp. Tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn (tháng 9 năm 1940), Nam-kỳ (tháng 11 năm 1940) và cuộc binh biến ở Chợ Rạng, Đô Lương (tháng 1 năm 1941).

Ngày 22 tháng 9 năm 1940, phát xít Nhật đem quân tiến vào Lạng Sơn, mở đầu cho sự xâm lược Đông Dương của phát xít Nhật, nhằm biến Đông Dương thành một bàn đạp để mở rộng cuộc chiến tranh ở Thái-bình-dương, chiếm đoạt các thuộc địa của các đế quốc Anh, Pháp, Mỹ. Khi quân Nhật đánh vào Lạng Sơn, quân Pháp ở đây đã nhanh chóng tan rã. Chỉ trong vòng hai ngày, quân Nhật đã phá tan những hệ thống phòng thủ kiên cố của Pháp ở Đồng Đăng, Na Sầm và thị xã Lạng Sơn. Tướng May-nơ-ra kéo quân xuống Đồng Mỏ, nhưng đến ngày 25 tháng 9 năm 1940 đã phải trương cờ trắng đầu hàng quân Nhật. Tàn quân Pháp bị Nhật đánh bại tháo chạy theo đường Điềm He — Bình Gia — Bắc Sơn để về Thái Nguyên. Trên đường tháo chạy, chúng vứt súng đạn dọc đường cải trang thành dân thường để che mắt quân Nhật và vào làng xin ăn. Đồng bào ở nhiều địa phương đã tự động đi thu nhặt súng đạn, có nơi còn đón đường tước vũ khí của tàn binh Pháp, Tri châu Thoát Lãng bị nhân dân địa phương nổi dậy trừng trị. Tri phủ Tràng Định và tri châu Điềm He một phần sợ Nhật và một phần sợ quần chúng đã bỏ công đường chạy trốn. Các đồn, nha ở Điềm He, Bình Gia bị nhân dân triệt phá. Chính quyền tay sai của thực dân Pháp ở nhiều nơi quân Pháp chạy qua lụng lay, tan rã; nhân dân tự đứng ra tổ chức trật tự, trị an ở làng xóm của mình.

(1) Văn kiện Đảng (1939—1945), Nhà xuất bản Sự Thật, Hà Nội, 1963, trang 110.
(2) Văn kiện Đảng (1939—1945), Nhà xuất bản Sự Thật, Hà Nội 1963, tr—73.
(3) Văn kiện Đảng (1939—1945), Nhà xuất bản Sự Thật, Hà Nội 1963, tr—63.

Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.

macbupda

Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL

Lịch sử Cứu quốc quân« Trả lời #3 vào lúc: 03 Tháng Tư, 2021, 02:51:03 pm »
Nắm được cơ hội trên đây, sáng ngày 25 tháng 9 năm 1940, một số đồng chí đảng viên vừa thoát khỏi nhà tù Lạng Sơn chạy về địa phương như đồng chí Nông Văn Cún, Hoàng Đình Ruệ... đã họp với một số đồng chí đảng viên ở chi bộ Hưng Vũ, Bắc Sơn như đồng chí Dương Công Bình, Hoàng Văn Hán... tại làng Nông Lục (xã Hưng Vũ). Cuộc họp quyết định lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa, đánh đồn Mỏ Nhài, chiếm lấy châu lỵ Bắc Sơn. Cuộc họp đã phân công các đồng chí đi về các xã Hưng Vũ, Chiêu Vũ, Bắc Sơn, Trấn Yên… vận động và tập hợp nhân dân thành lực lượng có tổ chức, có vũ trang để tiến hành khởi nghĩa.

Tám giờ tối ngày 27 tháng 9 năm 1940, khoảng 600 người trong đó có cả tổng đoàn, xã đoàn, lính và dõng, trang bị bằng các loại vũ khí như súng trường, súng kíp, giáo mác, gậy gộc... chia thành ba mũi tiến đánh đồn Mỏ Nhài. Trước sức tiến công của cách mạng, quân địch đã hoang mang lại thêm hoang mang, nên đã nhanh chóng tan rã. Tri châu Hoàng Văn Sĩ cùng binh lính ở đồn Mỏ Nhài trốn chạy qua đèo Canh Dàn sang Bằng Mạc. Quân khởi nghĩa hoàn toàn làm chủ chân lỵ. Rạng ngày 28 tháng 9, các đồng chí lãnh đạo khởi nghĩa đã tổ chức một cuộc mít tinh quần chúng ngay tại châu lỵ, tuyên bố chính quyền đế quốc không còn nữa, nhân dân tự tổ chức lấy trật tự trị an ở làng bản của mình. Sau cuộc mít tinh mọi người giải tán ra về trong niềm hân hoan, phấn khởi. Cùng ngày hôm đó, nhân dân Hưng Vũ, Chiêu Vũ đuổi đánh và tước vũ khí bọn lính bại trận ở Dập Dị và Nà Ti, diệt hai tên lính Pháp và thu vũ khí; nhân dân Nam Nhi và Tràng Sơn thì phục kích tàn binh Pháp ở đèo Canh Tiếm, Thâm Thông, diệt một tên đội người Việt và hai tên lính Pháp.

Cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn đã giành được thắng lợi đầu tiên rất có ý nghĩa là đã đập tan chính quyền địch ở châu lỵ. Nhưng do hoàn cảnh và điều kiện lịch sử lúc đó, các đồng chí lãnh đạo khởi nghĩa không biết tiếp tục đưa phong trào cách mạng tiến lên. Sau khi làm chủ được châu lỵ các đồng chí lãnh đạo khởi nghĩa cử đồng chí Nông Văn Cún xuống Võ Nhai gặp đồng chí Chu Văn Tấn để đồng chí Chu Văn Tấn báo cáo về Xứ ủy Bắc—Kỳ xin chỉ thị.

Sau khi Pháp đã chấp thuận những yêu sách và đồng thời thấy lật đổ hoàn toàn ngay Pháp chưa có lợi, phát xít Nhật đã bắt tay với Pháp, dùng Pháp làm tên tay sai đắc lực đàn áp cách mạng Việt Nam. Do vậy, đế quốc Pháp đã nhanh chóng đưa binh lính quay trở lại Bắc Sơn đàn áp cuộc khởi nghĩa. Ngày 1 tháng 10 năm 1940, tên phó sứ tỉnh Lạng Sơn Bôn-phít cùng hai tên võ quan là Boóc-đi-ô (đồn trưởng đồn Đình Cả) và Lơ-gay (đại lý đồn Bình Gia), chỉ huy khoảng một trung đội lính khố xanh từ Đình Cả (châu Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên) tiến lên chiếm lại đồn Mỏ Nhài, tổ chức lại bộ máy cai trị của chúng tại Bắc Sơn. Thấy Pháp trở lại, những tên tổng lý, kỳ hào phản động, tham tiền và hiếu danh lại quay ra ôm chân chủ, làm mật thám chỉ điểm cho Pháp, tiến hành đàn áp phong trào cách mạng của nhân dân Bắc Sơn.

Thực dân Pháp cùng bè lũ tay sai phản động đã đàn áp, khủng bố nhân dân Bắc Sơn rất dã man. Chúng bắt bớ, bắn giết, tra tấn, tù đầy, đốt phá xóm làng, ruộng vườn những người tham gia khởi nghĩa, hòng dập tắt phong trào cách mạng Bắc Sơn trong một thời gian ngắn, có những tên tay sai đắc lực như xã đoàn Niên (Nguyên Văn Niên), chánh Hương (Nguyễn Văn Hương), lý Chẩn... chỉ lối, đưa đường, quân địch đã đốt phá một loạt nhà cửa, ruộng vườn ở Minh Đán, Nông Lục (xã Hưng Vũ), Mỏ Tát, Nam Nhi, Tràng Sơn (xã Vũ Lăng)(1), và chúng đã bắt được một số người tham gia khởi nghĩa. Địch đã bắt đầu thiết lập lại được chính quyền tay sai ở các địa phương. Chúng đem tổng đoàn Phú và tổng đoàn Vĩnh là những người tham gia cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn ra xử bắn ở Mỏ Nhài, để khủng bố quần chúng, đồng thời cũng là để trấn an bọn tay sai. Cuộc khủng bố của địch đã phần nào gây nên sự hoang mang trong một số quần chúng. Vấn đề cấp thiết lúc này là những người lãnh đạo phải bám chắc quần chúng để giữ vững và tiếp tục đưa phong trào tiến lên.

Nhận thức rõ tầm quan trọng của cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, khi được báo cáo, Xứ ủy Bắc-kỳ đã cử hai xứ ủy viên lên Bắc Sơn tham gia lãnh đạo phong trào. Đầu tháng 10 năm 1940 đồng chí Trần Đăng Ninh và Nguyễn Thành Diên(2) đã lên đến Nam Nhi (xã Vũ Lăng). Qua kiểm tra và nắm tình hình, ngày 14 tháng 10 năm 1940, đồng chí Trần Đăng Ninh đã triệu tập một cuộc họp các đảng viên địa phương ở Sa Khao (xã Vũ Lăng) để phổ biến chỉ thị của Xứ ủy. Qua thảo luận, cuộc họp đã nhất trí quyết nghị:

a) Tập trung đảng viên và một số quần chúng tích cực, vận động nhân dân thu thập vũ khí để thành lập đội du kích Bắc Sơn. Xây dựng khu vực Nà Tấu (xã Ngư Viễn), Sa Khao, Mỏ Tát, Bản Me, Nam Nhi (xã Vũ Lăng) thành căn cứ của đội du kích.

b) Giải tán chính quyền địch, thu bằng triện của bọn kỳ hào, tiêu diệt bọn mật thám, tịch thu tài sản của bọn tay sai phản động đem chia cho nhân dân.

c) Tích trữ lương thực để chiến đấu lâu dài, tổ chức mit tinh diễn thuyết kêu gọi nhân dân ủng hộ cách mạng.

đ) Thành lập ban chỉ huy đội du kích gồm có các đồng chí Trần Đăng Ninh, Chu Văn Tấn...

(1) Tiêu biểu là làng Minh Đán có 29 nóc nhà hoàn toàn bị địch đốt trụi, hàng trăm dân chúng không có nhà ở.
(2) Nguyễn Thành Diên là xứ ủy viên xứ ủy Bắc-kỳ sau này bị bắt, đã phản bội.

Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.

macbupda

Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL

Re: Lịch sử Cứu quốc quân« Trả lời #4 vào lúc: 03 Tháng Tư, 2021, 02:52:17 pm »
Thực hiện quyết định của cuộc họp Sa Khao, ngày 16 tháng 10 năm 1940, ban chỉ huy Đội du kích đã tổ chức một cuộc mít tinh diễn thuyết tại Làng Đon Úy (xã Vũ Lăng). Thay mặt ban chỉ huy, đồng chí Trần Đăng Ninh tuyên bố Đội du kích Bắc Sơn đã được thành lập và kêu gọi nhân dân tích cực ủng hộ Đội du kích, tiếp tục đẩy mạnh cuộc khởi nghĩa. Đây là đội du kích đầu tiên do Đảng ta chỉ huy. Quyết định của cuộc họp Sa Khao được đảng viên, Đội du kích và đông đảo quần chúng tích cực thực hiện. Được nhân dân ủng hộ, Đội du kích liên tiếp trừng trị những tên tay sai đầu sỏ, bảo vệ cơ sở và thúc đẩy phong trào cách mạng tiến lên. Ngày 15 tháng 10 năm 1940, du kích đã giết tên xã đoàn Niên ở Nà Tấu (xã Ngư Viễn). Ngày 20 tháng 10 tên chánh Hương dẫn lính vào đốt nhà ở Mỏ Tát, Bản Me đã bị du kích bắn trọng thương ở suối Ràng Hoài (Tràng Sơn, Vũ Lăng). Ngày 23 tháng 10, một tiểu đội du kích lại đột nhập vào nhà chánh Hương ở Vũ Lăng, tịch thu tài sản đem chia cho dân nghèo. Ngày 24 tháng 10, Đội du kích tiến công toán lính dõng do châu đoàn Trịnh Văn Nghiêm chỉ huy và chiếm lấy trường Vũ Lăng.

Những hoạt động liên tiếp cùng những thắng lợi đã giành được của Đội du kích đã cổ vũ nhân dân hăng hái ủng hộ và tham gia du kích. Phong trào thu nhặt vũ khi, quyên góp sủng kíp, giáo, mác, thóc, gạo... ủng hộ du kích đã được đông đảo nhân dân tích cực tham gia. Phong trào đó diễn ra sôi nổi ở các xã Hữu Vĩnh, Ngư Viễn, Vũ Lăng, Vũ Lễ, Hưng Vũ, Chiêu Vũ, Bắc Sơn, Trấn Yên, Gia Hòa... Phong trào này còn lôi kéo cả một số anh em binh lính, xã đoàn... tham gia. Ở Vũ Lăng, nơi có sự chỉ đạo trực tiếp của Ban chỉ huy Đội du kích, các hoạt động của quần chúng diễn ra sôi nổi. Ở đây chính quyền địch bị xóa bỏ, bằng triện của tổng lý bị tịch thu. Khế ước, sổ sách, giấy tờ của chúng bị đốt. Chỉ sau một thời gian tương đối ngắn, phong trào cách mạng ở Bắc Sơn lại phát triển mạnh. Đến cuối tháng 10 năm 1940, lực lượng vũ trang của quần chúng cách mạng đã phát triển tới hai, ba trăm người. Trong đó Đội du kích là lực lượng vũ trang thoát ly cũng được bổ sung thêm nhiều đội viên dũng cảm.

Phát huy khí thế của phong trào, Ban chỉ huy Đội du kích quyết định đánh đồn Mỏ Nhài, chiếm lại châu lỵ Bắc Sơn. Để động viên quần chúng hưởng ứng, bảo đảm giành thắng lợi trong trận đánh, Ban chỉ huy Đội du kích quyết định tổ chức một cuộc mít tinh lớn tại nhà trường Vũ Lăng. Ngày 28 tháng 10 năm 1940, nhân dân các xã Hữu Vĩnh, Ngư Viễn. Vũ Lăng, Vũ Lễ, Hưng Vũ, Chiêu Vũ, Bắc Sơn, Gia Hòa, Trấn Yên cùng Đội du kích Bắc Sơn họp thành đoàn tuần hành gồm hàng nghìn người kéo từ Nam Nhi đến trường Vũ Lăng họp mít tinh. Ban chỉ huy Đội du kích phân công một số tiểu đội canh gác ở Kéo Coi, Kéo Gàn, Canh Tiến bảo vệ cuộc mít tinh. Thay mặt Ban chỉ huy Đội du kích, đồng chí Trần Đăng Ninh đã lên diễn thuyết trước cuộc mit tinh. Đồng chí vạch trần tội ác của đế quốc Pháp, Nhật, động viên nhân dân tích cực ủng hộ cách mạng, tiêu diệt kẻ thù, giành độc lập, tự do. Do ta mất cảnh giác để bọn phản động địa phương đến dự mít tinh, bọn này đã mật báo cho tên Bóoc-đi-ê. Tên Bóoc-đi-ê đem quân từ đồn Mỏ Nhài xuyên rừng tập kích cuộc mít tinh. Bị đánh bất ngờ, nhưng quần chúng cách mạng và quân du kích đều là người địa phương đã nhanh chóng phân tán, theo đường rừng rút lui an toàn.

Ngày 20 tháng 10 năm 1940, đồng chí Trần Đăng Ninh thay mặt Ban chỉ huy đã triệu tập một cuộc họp gồm các đồng chí đảng viên trung kiên ở Nà Pán (xã Vũ Lăng). Qua thảo luận, đánh giá tình hình, cuộc họp quyết định:

a) Rút toàn bộ cán bộ, đảng viên đã bị lộ cùng quân du kích vào rừng sâu để tiến hành hoạt động bí mật.

b) Đối với những cán bộ, đảng viên chưa bị lộ thi kiên trì bám chắc lấy quần chúng để củng cố và giữ vững cơ sở cách mạng ở các xã.

c) Gấp rút chuẩn bị để chống cuộc khủng bố lớn của địch.

Sau cuộc họp này, đồng chí Trần Đăng Ninh về xuôi báo cáo, xin chỉ thị của Trung ương và Xứ ủy. Đến đây, cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn chấm dứt, để chuyển sang một giai đoạn đấu tranh mới.

Ưu điểm căn bản của cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn là, lúc đầu đã chớp đúng thời cơ Nhật đánh Pháp, quân Pháp thua chạy, hệ thống chính quyền tay sai ở những nơi tàn quân Pháp chạy qua lung lay tan rã. Những đảng viên cộng sản đã kiên quyết lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa. Quân khởi nghĩa thì quyết tâm và anh dũng chiến đấu. Do đó cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn đã nhanh chóng giành được thắng lợi đầu tiên là chiếm lấy đồn, đập tan chính quyền tay sai ở châu lỵ. Cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn đã không giành được thắng lợi quyết định vì đã không biết chớp lấy thời cơ thuận lợi đó để tiến công liên tục, đập tan hoàn toàn bộ máy chính quyền tay sai của thực dân Pháp ở các địa phương, tiến lên xây dựng chính quyền cách mạng và tổ chức lực lượng vũ trang để bảo vệ lấy nó. Hơn nữa, thời cơ của cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn là thời cơ cục bộ, địa phương, nó qua đi rất nhanh, toàn quốc chưa có điều kiện để hưởng ứng, do đó, đã bị thực dân Pháp đàn áp khốc liệt và liên tục. Mặc dù vậy, cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn có ý nghĩa lịch sử rất lớn. Nó có tác dụng thức tỉnh quần chúng, động viên phong trào cách mạng toàn quốc, và mở đầu thời kỳ đấu tranh mới của cách mạng Việt Nam, như Hội nghị lần thứ bảy của Trung ương Đảng đã đánh giá «Đó là những tiếng súng báo hiệu cho cuộc khởi nghĩa toàn quốc, là bước đầu đấu tranh bằng võ lực của các dân tộc Đông Dương»(1).

Cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn chưa giành được thắng lợi quyết định. Nhưng nó đã rèn luyện quân khởi nghĩa và tập hợp quân khởi nghĩa thành Đội du kích Bắc Sơn là đội du kích đầu tiên của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng. Trong quá trình chiến đấu, khu căn cứ của Đội du kích Bắc Sơn cũng đã hình thành. Đó là cơ sở thuận lợi, là điều kiện trực tiếp của sự xuất hiện căn cứ Bắc Sơn — Võ Nhai và sự ra đời đội Cứu quốc quân.

(1) Văn kiện Đảng (1939—1945), Nhà xuất bản Sự Thật, Hà Nội 1963, tr—189.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn