Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

SƯ ĐOÀN 303 "BẮC TIẾN"

Cuối năm 1979, Sư đoàn 303 bất ngờ nhận lệnh rời chiến trường Campuchia hành quân bằng tàu hỏa ra Hà Nam Ninh để sẵn sàng đánh địch đổ bộ đường biển, bảo vệ miền Bắc. Sau khi ổn định lực lượng, đơn vị vừa huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, vừa tăng gia sản xuất và xây dựng lực lượng. Năm 1983, tác giả trở lại Quân khu 7 đảm nhiệm chức vụ Tham mưu phó, Trưởng phòng Tác chiến, tiếp tục chỉ huy công tác quân sự trên hai hướng Campuchia và biên giới Tây Nam. Xen giữa những nhiệm vụ liên tiếp là những c

Lai Châu03/07/2026Ban Biên tập tổng hợp1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tháng 10 năm 1979, tôi đang cùng đơn vị hoạt động vùng sâu Congpongcham, dọc theo sông Chi Nít lên Nui Chi, cách căn cứ Sư đoàn ở Cham Ka Lơ trên 30 kilômét trong rừng sâu thì nhận được điện của Bộ Tư lệnh Quân khu về căn cứ Sư đoàn nhận nhiệm vụ.

Không thể ra bằng đường bộ được, tôi đề nghị tiền phương Bộ tổng tham mưu cho trực thăng vào đón. Về đến căn cứ Sư đoàn, tôi thấy có các đồng chí Bộ Tư lệnh Quân khu: đồng chí Bảy Cống (Đồng Văn Cống), Chín Như (Võ Minh Như) và các cơ quan quân khu. Cả đại diện Cục vận tải Tổng cục Hậu cần cũng có mặt. Tôi đoán có thể cơ động lên Siêm Rệp vì phương án này đã có và tôi đã đi trinh sát vùng Ăngco – Siêm Rệp rồi.

Vào họp nhận nhiệm vụ, mọi ý nghĩ ban đầu đều đảo lộn, bất ngờ đến ngỡ ngàng. Sư đoàn 303 được bổ sung đầy đủ xe pháo, tổ chức hành quân cấp sư đoàn từ Congpongcham ra Hà Nam Ninh, Quân khu 3. Sau 15 ngày đến Hà Nam Ninh, phải xây dựng xong phương án đánh quân địch đổ bộ đường biển lên Hải Hậu (Nam Định), cùng Quân đoàn 1 giữ vững giải Tam Điệp. Trước mắt, bắt liên lạc với Quân khu 3 để được giúp đỡ địa bàn đóng quân. Sau khi đứng chân xong sẽ nằm trong đội hình Quân đoàn 9 Bộ Quốc phòng.

Sư đoàn gấp rút thu quân, củng cố tổ chức, tiến hành công tác chính trị, lãnh đạo tư tưởng, tổ chức hành quân.

Bảo đảm vận chuyển từ Congpongcham về Long Bình - Biên Hòa do Trung đoàn vận tải ô tô Quân khu phụ trách Từ Long Bình - Biên Hòa hành quân bằng tàu hỏa ra Nam Định do Cục vận tải Tổng cục Hậu cần phụ trách. Chậm nhất sau một tháng, toàn Sư đoàn phải có mặt ở Hà Nam Ninh.

Nhiệm vụ đột xuất, bất ngờ, mới mẻ - hành quân bằng tàu hỏa - suốt quá trình công tác tôi chưa gặp. Sư đoàn tiến hành mọi công tác tổ chức. Họp Đảng ủy Sư đoàn mở rộng ra nghị quyết lãnh đạo, tiến hành giao nhiệm vụ cho cơ quan và đơn vị, cử tiền trạm về Long Bình và tiền trạm ra Hà Nam Ninh.

Khó khăn nhất là lãnh đạo tư tưởng. Sư đoàn có 7.500 quân thì có 3.500 anh em cán bộ, chiến sĩ phía Nam. Việc đưa quân ra Bắc gặp trở ngại lớn về tư tưởng, phải làm thế nào để anh em thông suốt.

Sư đoàn tiến hành thu quân, chấn chỉnh tổ chức, làm công tác lãnh đạo tư tưởng tại Campuchia, đồng thời cử tiền trạm chuẩn bị hai nơi - Long Bình, Biên Hòa và Hà Nam Ninh đến 15 tháng 11 thì cơ bản hoàn thành.
Ngày 20 tháng 11, Sư đoàn phát lệnh hành quân. Đơn vị tổ chức thành từng khối, mỗi khối 600 quân đi đủ hai vagông xe lửa và bốn vagông chở giường, phản và các phương tiện, dụng cụ vật chất khác. Xe pháo kèm theo đi vagông trần.

Chỉ huy sư đoàn điều hành chỉ huy hành quân ở Long Bình. Bộ phận tiền trạm đặt tại ga Gôi Nam Định tiếp nhận. Hai đầu liên lạc chặt chẽ với nhau.

Ngày 25 tháng 11, tôi về Sở chỉ huy ở Long Bình điều hành công việc. Ở đây, cứ chiều, tôi về nhà là sáng lại đi. Tôi chưa dám nói cho vợ tôi biết tôi phải ra Bắc.

Tuyết thấy tôi sao lần này gần nhà lâu quá, cả hai tuần vẫn chưa thấy lên lại Campuchia bèn hỏi. Tôi trả lời quấy quá:

- Còn công việc ở Quân khu.

Vẫn chưa dám nói thật.

Khoảng năm ngày sau nữa, tôi đành vào Bộ Tư lệnh cứu viện các anh ra nói chuyện với vợ tôi về nhiệm vụ của tôi. Cục chính trị cử anh Mười Ngà, Trưởng phòng Cán bộ, là bạn của vợ chồng tôi. Anh ra, phân trần với vợ tôi:

- Cả sư đoàn ra Bắc, Năm Hưng là Sư đoàn trưởng không đi sao được! Không đi, cán bộ dễ nản lòng, lính hoang mang dao động có thể xảy ra đào ngũ... Chị ở nhà có khó khăn, tập thể và cơ quan không bỏ chị đâu.

Sau khi nghe Mười Ngà nói, vợ tôi nín lặng hồi lâu. Trấn tĩnh trở lại, Tuyết mới trả lời:

- Nhiệm vụ, anh cứ yên tâm mà đi. Em sẽ cố gắng như hồi đánh Mỹ vậy. Cảm ơn anh Mười.

Đã bốn năm sau ngày giải phóng miền Nam, vợ con tôi vẫn chưa thực sự sống có hòa bình như nhiều gia đình bình thường khác. Tôi xót xa thay cho Tuyết, song không thể làm gì hơn được.

Cuối tháng 11 năm 1979, sau gần một tháng Sư đoàn hành quân, Quân khu tổ chức một cuộc họp có quân - dân - chính - Đảng trong Quân khu để tiễn đưa Sư đoàn đi chiến đấu ở phía Bắc. Sư đoàn có Ban chỉ huy Sư đoàn và đại điện các trung đoàn. Cuộc tiễn đưa bí mật làm êm lòng người đi. Lần đầu tiên tôi thấy anh Năm Ngà xúc động, ôm ghì lấy tôi không nói được gì mà nước mắt ròng ròng. Tôi cũng khóc.

Các tỉnh tặng cho Sư đoàn vô số vật chất. Tây Ninh, 15 tấn đường. Long An, 5 tấn muối tiêu ngon. Thành phố Hồ Chí Minh. 40.000 gói mì tôm. Đồng Nai, quần áo và khăn mặt.

Cuốn phim tiễn đưa này còn giữ bí mật đến nay.

Ngày 20 tháng 12, toàn Sư đoàn đã ổn định đội hình ở Hà Nam Ninh. Sư đoàn bộ ở xã Nam Vân, Trung đoàn 33 ở Vụ Bản, Trung đoàn pháo ở Núi Gôi, Trung đoàn 316 ở Nam Ninh.

Trong quá trình hành quân trên 100 người đào ngũ, nhưng sau một tháng lại có mặt đông đủ. Biết ra đây là chuẩn bị chiến đấu bảo vệ đất nước thì không đồng chí nào bỏ cuộc, dù là một chiến sĩ bình thường. Không kịp từ giã gia đình, những đồng chí nhẹ dạ bỏ về thăm nhà vài ngày sau đó đã trở lại với đơn vị.

Sư đoàn đã hoàn thành nhiệm vụ hành quân đường dài một cách xuất sắc, không xảy ra một tai nạn nào.

Sư đoàn hành quân ra Bắc là một sư đoàn mạnh; được trang bị xe chỉ huy, xe hậu cần, xe kéo pháo mặt đất, xe kéo cao xạ đầy đủ. Xe con dùng cho chỉ huy đến cấp trung đoàn, trong lúc ngoài Bắc chỉ cấp sư đoàn mới có. Vật chất mang theo đủ dùng trong 3 tháng. Xăng dầu 37.000 lít, bột ngọt ăn 3 tháng, cơ số thuốc cho chiến thương đầy đủ, phản nằm mỗi người một chiếc.

Ra đóng quân nhà dân, song bộ đội ít gặp khó khăn. Chỉ có điều, do thay đổi khí hậu, lạ nước nên bệnh sốt rét tái phát và tăng cao. Cơ quan Quân khu xuống xem Sư đoàn có yêu cầu gì, tôi chỉ đề nghị giúp giải quyết nạn sốt rét.

Sau 15 ngày ổn định đội hình, Sư đoàn báo cáo quyết tâm chống đổ bộ đường biên lên Hải Hậu với Bộ Tư lệnh Quân đoàn 9.

Gần 20 năm tôi mới trở lại đóng quân trong vùng nông thôn miền Bắc. Lần này khác xa những năm 1960 trở về trước. Đời sống nhân dân no ấm, không còn cảnh ngủ ổ rơm, ăn cơm trong xó bếp với nước cải chua. Bây giờ bữa cơm có thịt, cá; tối ngủ có mùng mền, có nhà có cả nệm. Không còn ai mặc rách, mặc vá.

Tôi mừng cho dân. Bộ đội không phải cứu đói cho trẻ nhỏ như 20 năm về trước.

Nhằm cải thiện đời sống bộ đội - cũng là bản chất của Quân đội nhân dân, là đội quân sản xuất khi chưa có giặc - tôi và cơ quan hậu cần vào Thanh Hóa xin đất thuộc vùng rừng núi Như Xuân đưa bộ đội lên sản xuất.

Cứ như thế: đều đặn học tập, lao động, sản xuất và sẵn sàng chiến đấu, các đơn vị của Sư đoàn đứng trên địa bàn của mình còn làm tốt công tác dân vận trong quan hệ với dân.

Cuối năm 1982, Trung ương họp đánh giá lại tình hình và có chủ trương đẩy mạnh 3 mũi nhọn kinh tế: dầu khí, trồng cao su và sản xuất lúa.

Quân khu 3 được giao nhiệm vụ đưa từ 3.000 đến 5.000 người vào miền Đông Nam Bộ trồng cao su. Chớp thời cơ, tôi đề nghị với đồng chí Nguyễn Quyết - Tư lệnh Quân khu - cho tôi tổ chức 2 trung đoàn anh em chiến sĩ và cán bộ miền Nam trở lại Phước Long trồng cao su, Sư đoàn sẽ tuyển quân miền Bắc bù vào quân số sư đoàn. Bộ Tư lệnh Quân khu 3 xét thấy đề nghị của tôi là hợp lý hợp tình, hoàn toàn đồng ý. Sư đoàn gom hết cán bộ, chiến sĩ gốc miền Nam tổ chức thành 2 Trung đoàn cho hành quân bằng xe lửa trở lại Phước Long.

Hai trung đoàn đi rồi, Sư đoàn trở nên xộc xệch. Khẩu đội trưởng pháo, y tá, tiểu đội trưởng, lái xe... thiếu nát hết. Tôi động viên cơ quan mở lớp y tá, lớp tiểu đội trưởng, khẩu đội trưởng và gửi đi học lái xe ở Quân khu và Bộ.

Toàn sư đoàn thành trường học. Phải đào tạo cấp tốc để sau Tết 1983, Sư đoàn nhận quân mới có đủ chỉ huy. Tháng 2 năm 1983, Sư đoàn nhận tân binh vào, số cán bộ cơ sở chỉ huy đã đào tạo kịp, Sư đoàn đủ quân số, vẫn sẵn sàng chiến đấu.

Toàn Sư đoàn chỉ còn mình tôi - Sư đoàn trưởng - là người miền Nam. Tháng 4 năm 1983, Bộ Quốc phòng quyết định để tôi bàn giao nhiệm vụ cho Sư đoàn trưởng mới. Tôi nhận nhiệm vụ Tham mưu phó, Trưởng phòng Tác chiến Quân khu 7.

Nhớ lại chuyện nhà. Tôi đi, vợ tôi phải chăn nuôi heo tăng gia để đảm bảo cuộc sống gia đình trong lúc các con tôi còn nhỏ đều đang đi học. Tuyết lại ốm đau luôn vì sức khỏe sa sút, các thứ bệnh có dịp phát ra. Nhưng vợ tôi đầy nghị lực, thư từ không bao giờ kêu khó, không bao giờ than thở. Thư nào cũng nhắc tôi yên tâm với công việc.

Cuối năm 1982, tôi nhận được một bức điện ký tên Phương gọi tôi về ký tên bảo đảm cho vợ mổ. Tôi hơi lúng túng, Sư đoàn đang sẵn sàng chiến đấu làm sao đi? Tôi điện về Bộ Tham mưu Quân khu 7 nhờ anh Năm Bích, Tham mưu phó vào bệnh viện ký thay tôi. Ban cán bộ Sư đoàn báo cáo tình hình vợ tôi lên Phòng cán bộ Quân khu và Quân đoàn 9. Các anh điện xuống cho phép tôi về nuôi vợ mổ.

Tôi đáp máy bay về. Chỉ gặp các con ở nhà. Vào Bệnh viện 7A của Quân khu thì vợ tôi đã chuyển qua Bệnh viện Hùng Vương. Tuyết bị u xơ tử cung, nếu không mổ sớm dễ chuyển thành ung thư.

Thật may, gặp bác sĩ Bình, Viện trưởng cùng là bạn chiến đấu cũ, anh đích thân đứng ra mổ cho Tuyết (bác sĩ Bình khi lập Sư đoàn 5 anh là bác sĩ của Sư đoàn. Sau được đi học chuyên về phụ khoa ở Hunggari và Pháp 8 năm, khi giải phóng Sài Gòn anh tiếp quản và làm Viện trưởng Bệnh viện Hùng Vương. Rủi cho anh năm 1987, anh bị điện giật chết!). Tôi vô cùng cảm ơn anh.

Tôi về, được biết thêm trong thời gian tôi đi vắng, cán bộ các phòng trong Quân khu, các anh thủ trưởng Bộ Tham mưu Quân khu đã hết sức lo lắng, giúp đỡ vợ con tôi.

Tuyết đau, vào Bệnh viện 7A không cần giấy giới thiệu. Nghe nói ngoài miền Trung có người chữa giỏi, các anh cho xe, cho người đưa Tuyết đi.

Các bác sĩ, y tá Bệnh viện 7A đều hết lòng chăm lo cho Tuyết mỗi đợt vào trị bệnh.

Đó là tình cảm ruột liền ruột, xương liền xương của Quân khu 7, quân khu của miền Đông Nam Bộ, vùng đất tôi đã gắn bó như keo sơn từ thuở thiếu thời vào bộ đội...

...Sau hơn 3 năm trở ra Bắc trong hòa bình, tôi trở về làm Tham mưu phó, Trưởng phòng tác chiến Quân khu 7.

Về đây, với cảnh cũ người xưa, với bao nghĩa tình thân thương. Từ Tham mưu trưởng - anh út Liêm (Bùi Thanh Vân), Tham mưu phó - anh Năm Bích, anh út Đặng, anh Năm Đàng... đến các trưởng phòng đều là những đồng chí, những người bạn thân thiết đã quen nhau nếp nghĩ nếp công tác. Mọi công việc không có gì khó khăn. Chỉ có nhịp độ công tác khẩn trương hơn, phạm vi rộng hơn. Quân khu 7 chỉ huy cả 2 mặt trận 479 và 779 lên Campuchia và các tỉnh miền Đông. Khối lượng công việc nhiều hơn.

Tuy nhiên, trong Bộ Tham mưu mọi việc tiến hành rất ăn ý, rất khớp; do đó đã phục vụ kịp thời cho Bộ Tư lệnh Quân khu 7 chỉ đạo và chỉ huy hai mặt trận quân tình nguyện và các tỉnh nội địa.

Đêm mồng 2 rạng mồng 3 Tết năm 1984, tôi đang trực trong cơ quan. Ba giờ sáng, vợ tôi báo:

-Anh Năm! Cha đã mất.

Tôi rất tỉnh táo vì mọi hậu sự cho ông, tôi đã chuẩn bị trước hết rồi.

Tôi trả lời Tuyết:

- Em cứ chuẩn bị sẵn ở nhà. Giao ban xong, anh về rước em qua nhà cha.

Tuyết trả lời:

- Anh giao ban xong trưa mất. Sang đến nơi thì đã tẩm liệm rồi, không thấy mặt cha đâu.

Tôi điện cho anh Út Đặng (Tham mưu phó):

- Anh vào giúp tôi trực và giao ban. Cha tôi chết rồi.

Anh Út Đặng mau mắn:

- Năm Hưng đi đi, tôi vào ngay.

Tôi không báo cho cơ quan, cũng không báo cho Bộ Tư lệnh vì sợ phiền các anh phải đi viếng. Nhà cha tôi chật chội, nghèo khổ lắm, tận bên quận 8.

Các anh Năm Ngà (Thượng tướng Nguyễn Minh Châu), Tám Lê Thanh (Trung tướng) hay tin, đi kiếm nhà cha tôi cả buổi sáng. Mãi 11 giờ trưa mới đến. Các anh vào, tôi rất cảm động.

Anh Năm Ngà nói:

- Năm Hưng cứ lo tang xong đã. Công việc tôi nói Út Liêm lo.

Cơ quan Bộ Tham mưu cho xe qua lo chu tất đám tang cha tôi.

Cha tôi mất coi như tôi chẳng còn ai. Các con ông sau này tuy cùng cha nhưng khác mẹ, tình cảm đối với tôi cũng không sâu đậm vì tôi không gần, không biết gì về quá khứ của họ. Còn vì cha tôi đã xóa sổ tôi trong gia đình từ lâu rồi. May là sau 30 tháng 4 năm 1975, nhờ cậu Sáu tôi mà tôi gặp lại ông. Tôi đã cố gắng làm hết phận sự làm con: sống, tôi chăm lo nuôi dưỡng; bây giờ ông mất, tôi lo mai táng. Tôi nhớ mãi và rất buồn, năm 1975 sau giải phóng miền Nam, tôi về thăm mộ mẹ, thấy ngôi mộ hoang tàn, cỏ dại mọc đầy vì không ai chăm sóc. Đến khi cần làm tấm bia cho mộ mẹ, tôi mời ông cùng đi thì đến nay ông không còn nhớ mộ mẹ tôi ở đâu. Tôi hỏi thử, ông chỉ vào ngôi mộ khác, tôi tủi, thương mẹ mà rơi nước mắt!

Còn “phần” sau của ông không gắn tình cảm với tôi lắm. Đến bây giờ vẫn vậy.

Tháng 5 năm 1984, trong giao ban Bộ Tư lệnh, anh Năm Ngà, Tư lệnh Quân khu, chỉ thị bằng miệng cho tôi:

- Đồng chí Năm Hưng bàn giao công việc Bộ Tham mưu, lên Mặt trận 479 Campuchia đảm nhiệm Tư lệnh phó, Tham mưu trưởng.

Tôi về, chuẩn bị mọi việc, đáp máy bay lên Mặt trận 479 quân tình nguyện Campuchia ở Siêm Rệp.

Tôi đang bàn giao công việc, tiếp thu mọi việc của Mặt trận, đi khảo sát chiến trường... thì được điện của Tư lệnh Quân khu: “Năm Hưng về ngay Quân khu".

Tôi ngỡ ngàng chẳng hiểu thế nào. Mới lên, sao lại về? Song, vì tổ chức kỷ luật tôi lại đáp máy bay về, sau một tháng ở Mặt trận 479.

Vào báo cáo với Bộ Tư lệnh, anh Năm Ngà chỉ nói với tôi có một câu:

- Người ta đã có người làm Tư lệnh phó, Tham mưu trưởng rồi. Mình khỏe!

Sau này tôi mới biết Bộ Quốc phòng đã cử Thiếu Anh Lân lên. Tôi cũng đơn giản. Không làm thì thôi, chẳng phải suy nghĩ gì cho mệt.

Tiếp theo, anh Năm Ngà chỉ thị:

- Năm Hưng khoan tiếp nhận công việc tham mưu. Anh đi học bổ túc cao cấp quân sự.
Đầu tháng 8, tôi lại ra Hà Nội học 6 tháng. Hết tháng 1 năm 1985 quay về, lại gặp anh Năm Ngà:

- Năm Hưng về nhà ăn Tết đi. Sau Tết ra Hà Nội học tiếp. Học bổ túc ở Học viện chính trị cho nó xong luôn. Trước sau gì cũng phải học.

Sau Tết tôi lại quay ra Hà Nội.

Đến tận tháng 9 tôi mới trở về đảm nhiệm lại chức vụ Tham mưu phó, tác chiến Quân khu 7.

Vào tháng 12, cũng lại Tư lệnh quân khu gọi điện cho tôi:

- Ngày mai Năm Hưng giao nhiệm vụ lại cho các anh Bộ Tham mưu. Anh lên thay cho anh Chín Như, Tư lệnh phó Mặt trận 779 Đoàn trưởng đoàn quân sự tỉnh Congpongthom Campuchia.

Tôi trả lời:

- Làm sao tôi thay anh Chín Như được anh Năm? Anh Chín là Phó Tư lệnh Quân khu. Tôi chỉ là Tham mưu phó Quân khu.

Anh Năm Ngà biết tôi nói “chọc" ổng:

- Thôi, anh không lên nhanh, anh Chín Như mà chết thì anh ân hận đó. Anh đang bị nổi mụn ở cổ. Bác sĩ nghi ung thư. Anh lên đi!

Ngay ngày hôm sau, tôi lại lên Campuchia.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn