Sư đoàn 324 và những người con xứ Nghệ
Có những câu chuyện của chiến tranh không được ghi bằng những con số hay những bản báo cáo, mà được lưu giữ trong ký ức của những người đã từng đi qua bom đạn. Thời gian có thể làm bạc mái tóc, có thể xóa mờ nhiều dấu vết trên chiến trường, nhưng không thể làm phai nhạt những ký ức về đồng đội, về quê hương và về những ngày tháng tuổi trẻ đã hiến dâng cho Tổ quốc. Trong một lần trò chuyện với cụ Lê Hồng Sơn, cựu chiến binh Sư đoàn 324, hiện sinh sống trên quê hương Diễn Châu, tôi lặng người khi
TÊN TÁC PHẨM: Sư đoàn 324 và những người con xứ Nghệ
TÁC GIẢ :Nguyễn Hồng Sơn– Bí thư chi đoàn Hoàng Tân
ĐỒNG TÁC GIẢ : Ban thường vụ Đoàn Thanh Niên xã Hải Châu
Sư đoàn 324 và những người con xứ Nghệ
Có những câu chuyện của chiến tranh không được ghi bằng những con số hay những bản báo cáo, mà được lưu giữ trong ký ức của những người đã từng đi qua bom đạn. Thời gian có thể làm bạc mái tóc, có thể xóa mờ nhiều dấu vết trên chiến trường, nhưng không thể làm phai nhạt những ký ức về đồng đội, về quê hương và về những ngày tháng tuổi trẻ đã hiến dâng cho Tổ quốc.
Trong một lần trò chuyện với cụ Lê Hồng Sơn, cựu chiến binh Sư đoàn 324, hiện sinh sống trên quê hương Diễn Châu, tôi lặng người khi nghe cụ kể về những năm tháng chiến đấu của mình. Đôi mắt đã hằn sâu dấu vết của thời gian, giọng nói không còn khỏe như trước, nhưng mỗi khi nhắc đến đơn vị, đến đồng đội và đến quê hương Nghệ An, ánh mắt cụ lại sáng lên như được trở về những năm tháng thanh xuân.
Cụ bảo, Sư đoàn 324 khi ấy có rất nhiều chiến sĩ là con em Nghệ An, Hà Tĩnh. Những chàng trai vừa rời cánh đồng, rời bãi biển, rời những bản làng miền núi đã khoác lên mình màu áo lính. Họ đến từ nhiều vùng quê khác nhau nhưng đều chung một giọng nói, chung những câu ví, câu dặm đã theo mình từ thuở nằm nôi.
"Đi đâu thì đi, nghe giọng quê là thấy gần lắm", cụ Sơn cười hiền rồi chậm rãi kể.
Chiến tranh khốc liệt lắm. Những ngày hành quân liên miên, có khi cả tuần không được ngủ một giấc trọn vẹn. Có những bữa cơm chỉ vội vàng vài nắm gạo sấy, có khi chỉ là củ sắn, củ mì. Đường hành quân gập ghềnh, mưa rừng xối xả, quần áo lúc nào cũng ướt sũng. Thế nhưng giữa bao gian khổ ấy, tình đồng đội lại càng trở nên thiêng liêng.
Cụ kể rằng, mỗi khi đơn vị tạm dừng chân trước một trận đánh lớn, anh em lại tìm cách nhóm một bếp lửa nhỏ hoặc đun vội một ấm nước chè xanh. Chè chẳng phải loại ngon, chỉ là vài nắm lá hái ven đường hoặc mang theo từ hậu phương. Nước cũng chẳng đủ đầy, nhưng ai cũng nâng niu từng ngụm như đang thưởng thức hương vị quê nhà.
Mỗi người chuyền tay nhau chiếc ca nhôm đã móp méo vì năm tháng. Người uống trước đưa cho người uống sau. Chẳng ai ngại, cũng chẳng ai phân biệt. Trên chiến trường, tất cả đều là anh em.
Trong lúc nghỉ ngơi hiếm hoi ấy, không biết ai cất tiếng hát trước.
Có khi là một câu ví quen thuộc.
Có khi là một điệu dặm mộc mạc.
Có khi chỉ là vài câu hò mà mẹ từng ru thuở nhỏ.
Tiếng hát không hay như trên sân khấu. Có người hát còn chênh phô vì đã quá mệt. Nhưng lạ thay, giữa núi rừng, tiếng hát ấy lại ấm áp vô cùng. Nó làm dịu đi cái lạnh của đêm, làm vơi bớt nỗi nhớ nhà và khiến những người lính trẻ thấy quê hương như đang ở rất gần.
Cụ Sơn mỉm cười nhớ lại:
"Ngồi nghe anh em hát, ai cũng nhớ nhà. Có đứa nhớ mẹ, nhớ cha. Có đứa nhớ người yêu. Có đứa chỉ nhớ bát canh rau muống với cà pháo của mẹ thôi mà mắt cũng đỏ hoe."
Không ai nói ra, nhưng tất cả đều hiểu rằng ngày mai sẽ là một trận đánh rất ác liệt. Không ai biết ai còn, ai mất. Chính vì thế, từng câu hát càng trở nên tha thiết hơn.
Cụ kể về trận đánh tại cao điểm 689 với giọng chậm hẳn xuống.
Đó là một trận chiến vô cùng khốc liệt.
Bom đạn dội xuống không ngớt. Đất đá tung lên mù mịt. Khói súng phủ kín cả sườn đồi. Tiếng pháo nổ hòa cùng tiếng súng, tiếng hô xung phong và tiếng gọi nhau giữa chiến trường.
Trong hoàn cảnh ấy, điều khiến cụ nhớ nhất không phải là tiếng bom, mà là tiếng gọi của đồng đội.
Đó là những tiếng gọi mang đậm giọng Nghệ.
Tiếng gọi ngắn gọn nhưng đầy sức mạnh.
Tiếng gọi khiến ai nghe cũng biết đồng hương mình vẫn đang ở phía trước.
Cụ Sơn xúc động kể:
"Tiếng quê hương làm chúng tôi gắn kết như ruột thịt. Khi xông lên, nghe tiếng thét đồng hương đồng khói là lòng dũng cảm tăng lên gấp bội."
Câu nói ấy khiến tôi lặng đi rất lâu.
Có lẽ chỉ những người từng sống giữa ranh giới của sự sống và cái chết mới hiểu hết giá trị của hai tiếng "đồng hương". Giữa khói lửa mịt mùng, chỉ cần nghe một giọng nói quen thuộc cũng đủ tiếp thêm sức mạnh. Nó nhắc người lính nhớ rằng phía sau mình còn có quê hương, còn có gia đình, còn có biết bao người đang mong chờ ngày chiến thắng.
Cụ kể, nhiều chiến sĩ trong đơn vị chỉ mới mười tám, đôi mươi. Tuổi đời còn rất trẻ. Họ mang theo trong ba lô vài bộ quần áo, một chiếc khăn tay mẹ gửi, vài lá thư người thân và những ước mơ còn dang dở.
Có người hẹn sau ngày hòa bình sẽ về cưới vợ.
Có người mong được tiếp tục học.
Có người chỉ ước trở về cày lại mảnh ruộng của cha.
Ước mơ bình dị là thế, nhưng để đổi lấy ngày đất nước thanh bình, biết bao người đã mãi mãi nằm lại nơi chiến trường.
Mỗi lần nhắc đến những người đồng đội không còn trở về, giọng cụ Sơn lại nghẹn đi.
Cụ bảo, chiến tranh qua lâu rồi nhưng chưa bao giờ cụ quên được khuôn mặt của từng người.
Có người thích kể chuyện cười.
Có người hay hát.
Có người cứ mỗi lần nhận được thư nhà lại đọc đi đọc lại đến thuộc lòng.
Có người còn rất trẻ, chưa một lần được trở về thăm cha mẹ.
Họ đã gửi lại tuổi xuân nơi chiến trường để đất nước có được những mùa xuân hòa bình hôm nay.
Nhiều năm đã trôi qua kể từ ngày tiếng súng ngừng vang. Những người lính năm xưa giờ tóc đã bạc, lưng đã còng. Nhưng mỗi lần gặp lại nhau, họ vẫn gọi nhau bằng những cái tên thân thương như thuở còn trong quân ngũ.
Chỉ cần nhắc đến Sư đoàn 324, nhắc đến những người con xứ Nghệ, ký ức lại ùa về nguyên vẹn.
Đó không chỉ là ký ức của một đơn vị chiến đấu anh hùng.
Đó còn là ký ức về tình đồng đội.
Là tình yêu quê hương.
Là sức mạnh được nuôi dưỡng từ tiếng nói quê nhà, từ câu ví, câu dặm, từ bát nước chè xanh chuyền tay nhau trước giờ ra trận.
Ngồi trước cụ Sơn, tôi chợt hiểu rằng có những điều tưởng như rất bình dị lại có thể trở thành nguồn sức mạnh vô cùng lớn lao. Một giọng nói quen, một câu hát quê hương, một chén nước chè xanh... những điều nhỏ bé ấy đã giúp biết bao người lính vượt qua nỗi sợ hãi, cùng nhau bước vào những trận chiến cam go.
Hôm nay, trên quê hương Nghệ An, những con đường đã rộng mở, những cánh đồng xanh mướt trải dài, tiếng trẻ thơ ríu rít vang lên trong các ngôi trường. Cuộc sống bình yên ấy được đánh đổi bằng biết bao mồ hôi, nước mắt và cả máu của những người đi trước.
Câu chuyện của cụ Lê Hồng Sơn không chỉ kể về một trận đánh hay một đơn vị quân đội. Đó còn là lời nhắc nhở thế hệ hôm nay về giá trị của hòa bình, về tình yêu quê hương và về sự gắn bó thiêng liêng giữa những người cùng chung một mảnh đất.
Có thể mai này thời gian sẽ tiếp tục trôi, nhiều nhân chứng lịch sử sẽ lần lượt đi xa. Nhưng tôi tin rằng, những câu chuyện như của cụ Sơn sẽ còn được kể mãi. Bởi trong đó có hình ảnh của những người con xứ Nghệ chân chất, kiên cường; có tiếng ví, tiếng dặm vượt qua bom đạn; có chén nước chè xanh đậm nghĩa đồng bào; và có tinh thần bất khuất của một thế hệ đã sống, chiến đấu và hy sinh để đất nước được nở hoa độc lập.
Mỗi lần nhớ về họ, chúng ta không chỉ nhớ đến những chiến công, mà còn nhớ đến những con người bình dị đã mang theo cả quê hương trong trái tim mình. Chính tình yêu ấy đã giúp họ đứng vững giữa mưa bom bão đạn, giúp họ nắm chặt tay nhau vượt qua mọi gian khó và viết nên những trang sử vẻ vang cho dân tộc Việt Nam.
T.G: Nguyễn Hồng Sơn



