Bài viết

Sự hy sinh thầm lặng của các chiến binh quả cảm

Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Quảng Ninh là chiến trường trọng điểm ở Bắc Bộ, nơi quân và dân các dân tộc phối hợp mở nhiều chiến dịch lớn như Đông Bắc, Biên giới, Đường số 18…, góp phần tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch và xây dựng lực lượng vũ trang ngày càng vững mạnh.

Quảng Ninh25/12/2025Tô Yến Nhi2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, Quảng Ninh là một trong các chiến trường chính ở Bắc Bộ. Phát huy sức mạnh của chiến tranh nhân dân, quân và dân các dân tộc tỉnh Hải Ninh, Quảng Yên và Hòn Gai đã phối hợp với chiến trường cả nước, tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, giành thắng lợi quyết định trên chiến trường Đông Bắc.Đã có nhiều chiến dịch được mở trên khu vực Đông Bắc mà quân và dân Quảng Ninh khi đó đã tham gia, giành chiến thắng vang dội, như Chiến dịch Đông Bắc (1948-1949), Chiến dịch Biên giới (1950), phối hợp với Chiến dịch Trung du (1950-1951), Chiến dịch Đường số 18 (1951)… Quân ta đã tiêu diệt, bắt sống hàng ngàn tên địch, thu hàng trăm phương tiện quân sự, nhiều súng ống, đạn dược. Trải qua chiến đấu, lực lượng vũ trang của ta đã không ngừng lớn mạnh. Nhiều đơn vị cấp đại đội, tiểu đoàn đã được thành lập đủ sức đánh những trận lớn, quy mô chiến dịch.

Hiện nay, tại Bảo tàng tỉnh Quảng Ninh lưu giữ một hiện vật độc nhất vô nhị đó là bức trướng Bác Hồ đã thay mặt Chính phủ tặng cho Thành hoàng làng Pò Háng, huyện Đình Lập (khi ấy thuộc tỉnh Hải Ninh, nay thuộc Lạng Sơn). Theo các tư liệu lịch sử, tháng 1/1947, quân Pháp ồ ạt đánh chiếm đường số 4 (từ Quảng Ninh qua Lạng Sơn lên Cao Bằng). Huyện Đình Lập đã thành lập khu căn cứ kháng chiến Nà Thuộc gồm các xã: Bính Xá, Kiên Mộc và Bắc Xa.

Ngày 14/4/1947, thực dân Pháp huy động một tiểu đoàn cùng bọn tay sai tiến công khu căn cứ Nà Thuộc. Quân và dân địa phương đã chiến đấu vô cùng anh dũng, đánh lui tiểu đoàn Âu Phi, tiêu diệt hàng chục tên, trong đó có tên đội Pháp. Sau đó, quân Pháp điên cuồng huy động cả máy bay và pháo binh yểm trợ mở 15 cuộc tiến công khu căn cứ Nà Thuộc, nhưng đã bị quân và dân ta đánh tan tác.Trước khi xảy ra các trận đánh, tại đình Pò Háng, các cụ cao tuổi đã làm lễ cầu nguyện, phất cờ gõ thanh la, động viên, cổ vũ bộ đội, du kích. Tin vui thắng trận của quân và dân khu căn cứ Nà Thuộc lan đi khắp các chiến trường Việt Bắc và cả nước. Đầu năm 1948, Bác Hồ cho mời lãnh đạo tỉnh Hải Ninh đến báo cáo. Khi biết chuyện cả Thành hoàng làng Pò Háng cũng tham gia kháng chiến, Bác cười vui và nói: “Vậy phải khen thưởng cả Thành hoàng làng”.

Nói rồi, Bác đã ký lệnh trao tặng quân và dân khu căn cứ kháng chiến Nà Thuộc Huân chương Chiến công hạng Ba và cho may một bức trướng đặc biệt phong tặng Thành hoàng Pò Háng. Đó là bức trướng vải đỏ thêu các dòng chữ bằng chỉ màu vàng. Chính giữa là dòng chữ Hán: “Kháng chiến hộ ủng” (Ủng hộ kháng chiến), bên dưới có phiên âm chữ quốc ngữ. Bên phải là dòng chữ: Năm thứ ba niên hiệu nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa). Bên trái là dòng chữ: Chính phủ Chủ tịch Hồ Chí Minh phong tặng đều bằng chữ Hán.

Hoà cùng cuộc chiến đấu của các lực lượng vũ trang trên chiến trường, giai cấp công nhân và nhân dân Vùng mỏ cũng đẩy mạnh đấu tranh. Với sự chỉ đạo của Đặc khu uỷ, phong trào đấu tranh, phá hoại kinh tế địch của công nhân mỏ phát triển mạnh mẽ, gây cho địch nhiều thiệt hại nặng nề. Sản xuất than, điện có nơi, có thời điểm bị ngừng trệ vài tháng. Như ở núi Trọc (Cẩm Phả), đầu năm 1950, sản lượng than của chủ mỏ Pháp từ 1.600 tấn/ngày giảm xuống còn 300 tấn/ngày.

Với khẩu hiệu “Tay búa, tay súng”, nhân dân Quảng Ninh đã vừa sản xuất tốt, vừa chiến đấu giành thắng lợi, bảo vệ và ổn định đời sống nhân dân. Sản xuất than là một ngành mũi nhọn của nền kinh tế quốc dân miền Bắc, được Trung ương và Bác Hồ rất quan tâm. Bác nói: “Sản xuất than cũng như quân đội đánh giặc”.

Trong những năm chiến tranh, năng suất và sản lượng có bị giảm sút, nhưng chỉ sau khi Mỹ ngừng ném bom, sản lượng than đã vượt trước năm 1965, đạt trên 4 triệu tấn/năm. Do tầm quan trọng của ngành than và điện, Đảng và Nhà nước đã tập trung đầu tư cho Quảng Ninh xây dựng Nhà máy điện Uông Bí, công suất 100MW - lớn nhất miền Bắc lúc đó.

Trung đội nữ dân quân xã Nam Hoà, Yên Hưng (nay là thị xã Quảng Yên) trong những năm chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ. Ảnh: Bảo tàng tỉnh Quảng Ninh

Đầu năm 1965, đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh ra miền Bắc, liên tục cho máy bay đánh phá Hòn Gai, Cẩm Phả, Uông Bí, các bến cảng, cầu phà, nhà máy, xí nghiệp… Quân và dân Quảng Ninh đã anh dũng chiến đấu, bắn tan xác 45 máy bay Mỹ trong năm 1965. Thành tích xuất sắc đó đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng cờ thưởng luân lưu “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”.

Trong những năm 1965-1968, đế quốc Mỹ đã cho máy bay đánh phá ác liệt vào các cơ sở sản xuất Vùng mỏ, bệnh viện, nhà máy, công trình giao thông, khu dân cư. Ngoài ra, chúng còn tung gián điệp ra Quảng Ninh nhằm phá hoại hậu phương miền Bắc. Sau giai đoạn ngừng ném bom, tháng 4/1972, đế quốc Mỹ leo thang, đánh phá ác liệt trở lại miền Bắc, thả thuỷ lôi phong toả các cảng Hòn Gai và Cẩm Phả, Cửa Ông.

Quang cảnh bến phà Hòn Gai sau ngày Hiệp định Paris được ký kết (27/1/1973), chấm dứt chiến tranh xâm lược của Mỹ đối với miền Nam Việt Nam. Ảnh: Bảo tàng tỉnh Quảng Ninh

Tính ra, trong 8 năm gây ra cuộc chiến tranh phá hoại ở Quảng Ninh, giặc Mỹ đã dùng 8.000 lượt máy bay, ném gần 25.000 quả bom các loại vào các nhà máy, hầm mỏ, bệnh xá, trường học, khu dân cư… Nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, quân và dân Quảng Ninh đã chiến đấu anh dũng, bắn rơi 200 máy bay Mỹ, bắn cháy, bắn hỏng nhiều tàu chiến, bắt sống 10 giặc lái.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn