Sự ra đi của Ngô Quyền

Sự ra đi của Ngô Quyền
Ngô Quyền mất ngày 18 tháng 1 năm Giáp Thìn (14 tháng 2 năm 944),[12] hưởng dương 47 tuổi; trước khi chết ông di chúc cho Dương Tam Kha phò tá con của mình là Ngô Xương Ngập. Ông không có miếu hiệu và thụy hiệu, sử sách xưa nay chỉ gọi ông là Tiền Ngô Vương. Sách Thiền Uyển tập anh, phần truyện Quốc sư Khuông Việt có nhắc Ngô Thuận Đế.[18]
Ngày 14/8 (Âm lịch): Theo truyền thống dân gian và tín ngưỡng thờ tự, ngày 14 tháng 8 Âm lịch hằng năm được xem là ngày giỗ của Đức vua Ngô Quyền. Vào dịp này, nhân dân tổ chức lễ dâng hương tưởng niệm tại đền thờ và lăng của ông ở thôn Cam Lâm, xã Đường Lâm, nhằm tri ân vị anh hùng đã chấm dứt hơn một thiên niên kỷ Bắc thuộc, đặt nền móng cho nền tự chủ quốc gia.
Tuy nhiên, do sử liệu còn hạn chế và chưa có sự thống nhất tuyệt đối, ngày mất chính xác của Ngô Quyền đến nay vẫn chưa được xác định rõ ràng. Điều này dẫn đến sự khác biệt trong ngày giỗ tại nhiều địa phương:
Tại Phú Thọ, lễ tưởng niệm tại đền Chẹo được tổ chức vào ngày 18 tháng 4 Dương lịch.
Ở Hải Phòng, một số nơi lại chọn ngày 16 tháng Giêng Âm lịch làm ngày giỗ.
Sự đa dạng này phản ánh đặc điểm của văn hóa thờ cúng truyền thống Việt Nam, nơi ký ức lịch sử được lưu giữ không chỉ qua chính sử mà còn qua truyền thuyết, tín ngưỡng và phong tục địa phương.
Cho đến nay, việc xác định chính xác ngày mất của Ngô Quyền vẫn là một vấn đề còn bỏ ngỏ, đòi hỏi sự tiếp tục nghiên cứu của các nhà sử học và chuyên gia. Điều đó cũng cho thấy lịch sử không chỉ là những con số cố định, mà còn là hành trình khám phá và tái hiện lại quá khứ qua nhiều lớp tư liệu khác nhau.
Dương Tam Kha cướp ngôi cháu, tự lập mình làm vua, xưng là Dương Bình Vương, lấy Ngô Xương Văn, con thứ hai của Ngô Quyền làm con nuôi. Ngô Xương Văn sau dẫn quân quay lại lật đổ Dương Tam Kha. Năm 950, Ngô Xương Văn tự xưng làm Nam Tấn Vương, đóng đô ở Cổ Loa. Ngô Xương Văn cho người đón anh trai Ngô Xương Ngập đang trốn ở Nam Sách trở về. Ngô Xương Ngập cũng làm vua, tự xưng là Thiên Sách Vương (951–954). Từ năm 951 đến 956, lần lượt các thế lực họ Đinh, họ Dương và hoàng tộc nhà Ngô cát cứ, chống đối với triều đình Cổ Loa, mở đầu cho loạn 12 sứ quân.



