Sứ thần bất khuất Giang Văn Minh
Giang Văn Minh (1573 – 1639): Vị thám hoa, sứ thần thời Lê - Trịnh, người đã hiên ngang đối đáp tuyệt hay trước hoàng đế nhà Minh để bảo vệ thể diện quốc gia, chấp nhận hy sinh vì nghĩa lớn.
Giang Văn Minh sinh ra tại làng Mông Phụ, xã Đường Lâm, thị xã Sơn Tây, Hà Nội ngày nay – vùng đất "hai vua" giàu truyền thống lịch sử và văn hóa. Từ thuở nhỏ, ông đã nổi tiếng khắp vùng là người thông minh, hiếu học, chữ nghĩa lưu loát. Khoa thi Mậu Thìn (1628) dưới triều vua Lê Thần Tông, ông xuất sắc đỗ Đình nguyên Thám hoa. Do khoa thi này không có ai đỗ Trạng nguyên và Bảng nhãn, ông chính là người đỗ cao nhất trong bảng vàng năm đó. Sau khi đỗ đạt, ông bước vào quan trường, được triều đình hết mực trọng dụng và trải qua nhiều chức vụ lớn như Binh khoa đô cấp sự trung, Thái bộc tự khanh. Sống giữa thời kỳ đất nước có nhiều thăng trầm, ông luôn giữ vững lối sống chính trực, cương nghị và khảng khái.
Năm 1637, Thám hoa Giang Văn Minh được vua Lê và chúa Trịnh tin tưởng giao trọng trách làm Chánh sứ dẫn đầu phái bộ sang Yên Kinh (Bắc Kinh ngày nay) để bái kiến triều đình nhà Minh. Chuyến đi sứ này mang một sứ mệnh chính trị vô cùng nặng nề và mưu lược: cầu phong cho vua Lê và khôn khéo tìm cách bãi bỏ lệ cống nạp tượng vàng nặng 50kg hằng năm – một khoản "nợ Liễu Thăng" vô lý mà phong kiến phương Bắc đã ép nước ta phải gánh chịu suốt hơn hai thế kỷ. Khi đến kinh đô nhà Minh, với danh nghĩa thiên triều ngạo mạn, vua Minh Tư Tông (Sùng Trinh) và các quan lại phương Bắc liên tục tìm cách trì hoãn việc tiếp đón, đồng thời ra sức thử thách, hạch sách phái bộ nước Nam.
Giai thoại lừng lẫy nhất ghi dấu khí phách ngút trời của Giang Văn Minh diễn ra ngay giữa triều đình nhà Minh. Để "nắn gân" và hạ nhục sứ thần Đại Việt trước mặt bá quan văn võ và sứ bộ các nước lân bang, vua Minh đã ngạo mạn đưa ra một vế đối hiểm hóc: "Đồng trụ chí kim đài dĩ lục" (Nghĩa là: Cột đồng đến nay rêu đã mọc xanh). Vế đối này hiểm độc ở chỗ nó trực tiếp khơi lại nỗi đau lịch sử, nhắc về chiếc cột đồng mà tướng Mã Viện nhà Hán dựng lên sau khi đàn áp cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, kèm theo lời nguyền rủa bạo ngược hòng khuất phục ý chí người dân nước Nam. Trước sự khiêu khích trắng trợn chạm vào lòng tự tôn của Tổ quốc, Giang Văn Minh không một chút run sợ. Ông lập tức hiên ngang nhìn thẳng vào vua Minh, dõng dạc đối lại một vế đanh thép chấn động: "Đường Giang tự cổ huyết do hồng" (Nghĩa là: Sông Bạch Đằng từ xưa máu vẫn còn đỏ).
Vế đối lại của Giang Văn Minh là một đòn giáng sấm sét, chan chát đánh thẳng vào niềm tự hào của triều đình phương Bắc. Bằng việc nhắc lại ba chiến công oanh liệt trên dòng sông Bạch Đằng lịch sử – nơi quân dân nước Nam đã dìm chết hàng vạn quân xâm lược phương Bắc từ nhà Nam Hán, nhà Tống cho đến triều đại Nguyên – Mông, vị sứ thần Đại Việt đã khẳng định một sự thật đanh thép: giang sơn nước Nam là có chủ, và bất kỳ kẻ thù nào dám xâm phạm đều phải chuốc lấy thất bại nhục nhã. Quá tức giận vì thói kiêu ngạo bị bẻ gãy và lo sợ trước ý chí quật cường của vị đại sứ, vua Minh bất chấp luật lệ bang giao quốc tế hèn hạ hạ lệnh sát hại Giang Văn Minh vào ngày mồng 2 tháng 6 năm 1638. Tuy nhiên, vì nể phục tài năng thiên bẩm của ông, trước khi trao trả thi hài, vua Minh đã sai người dùng thủy ngân hãm vết mổ và ngậm nhân sâm để bảo quản thi thể ông vẹn toàn.
Khi phái bộ đưa thi hài Thám hoa Giang Văn Minh về tới quê hương, đích thân vua Lê Thần Tông và chúa Trịnh Tráng đã về tận nơi làm lễ an táng trang trọng. Đứng trước linh cữu của vị trung thần, vua Lê đã khóc thương và ban lời ca ngợi lưu danh muôn thuở: "Sứ bất nhục quân mệnh, khả vi thiên cổ anh hùng". Nhà vua truy tặng ông chức Công bộ Tả thị lang cùng tước Minh Quận công cao quý.
Hơn gần bốn thế kỷ dằng dặc trôi qua, cái chết bi tráng của Thám hoa Giang Văn Minh đã trở thành một bài học giáo dục sâu sắc vô giá về lòng yêu nước, tư cách kiên cường và lòng tự trọng dân tộc. Ngày nay, ngôi nhà cổ của ông ở làng cổ Đường Lâm đã được tôn tạo thành nhà thờ Thám hoa Giang Văn Minh, luôn nghi ngút khói hương của du khách thập phương. Tên của vị sứ thần lẫm liệt được trân trọng đặt cho các con phố, trường học sầm uất tại thủ đô Hà Nội và nhiều địa phương, mãi mãi là niềm tự hào kiêu hãnh của nền ngoại giao Việt Nam,



