Khác

Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ (1)

Năm 1989, trước yêu cầu đổi mới trong nghiên cứu lịch sử và ý kiến đóng góp của đông đảo bạn đọc, bắt đầu từ số 37(3-1989), Tạp chí Lịch sử quân sự (LSQS) mở chuyên mục “Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ”. Từ đó đến nay, cứ đều đặn trên các số, với chuyên mục này, Tạp chí đã đăng tải hơn 200 bài viết liên quan đến các vấn đề lịch sử chiến tranh, lịch sử nghệ thuật quân sự Việt Nam, lịch sử quân sự thế giới, lịch sử tổ chức quân sự qua các thời kỳ từ cổ đại đến hiện đại; về Đảng Cộng sản Việt Nam

Lai Châu03/07/2026Quân đội nhân dân (xã sìn hồ)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
VỀ VỊ TRÍ CỬA SÔNG HÁT NƠI HAI BÀ TRƯNG PHẤT CỜ KHỞI NGHĨA1
NGUYỄN QUANG NGỌC
Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng là cuộc khởi nghĩa toàn dân vừa mang tính chất quy tụ, vừa mang tính chất toả rộng. Tại cửa sông Hát, Hai Bà Trưng bí mật tập hợp nghĩa quân nòng cốt mở hội thề rồi tiến đánh Đô úy trị (Hạ Lôi, Mê Linh, Hà Nội), tiến xuống Tây Vu, đánh chiếm thành Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội) và mở cuộc tiến công quyết định giải phóng Luy Lâu (Lũng Khê, Thuận Thành, Hà Bắc) đánh đổ chính quyền đô hộ nhà Hán ở Giao Chỉ. Mặt khác, do có sự chuẩn bị từ trước, nhân dân các địa phương đều đồng loạt nổi dậy hưởng ứng cuộc khởi nghĩa Hát Môn, giải phóng quê hương, làm cho cuộc khởi nghĩa thành công rất nhanh gọn. Do đó, nhắc đến cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, điều quan trọng trước tiên phải nói đến là cửa sông Hát. Đã có nhiều nhà nghiên cứu quan tâm nhưng quả thực cho đến nay vẫn chưa có một công trình nào xác định và mô tả tương đối cụ thể về một vùng cửa sông Hát, nơi Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa. Bài viết này được hình thành trên cơ sở tư liệu khảo sát thực địa cách đây vừa đúng 10 năm, hẳn là không khỏi lạc hậu so với những thành tựu nghiên cứu mới, song chúng tôi vẫn xin mạnh dạn được trình bày.

Sông Hát thực ra chỉ là một tên gọi khác của sông Đáy. Sách Đại Nam nhất thống chí chép “Sông Bạch Hạc: ở cách huyện Bạch Hạc 22 dặm về phía Tây, hoặc gọi là ngã ba do các sông Thao, Đà, Lô hợp dòng mà thành…lại chảy về phía Đông qua địa giới hai huyện Tiên Phong và Phúc Thọ gồm 28 dặm, đến bến Phù Nhi, lại chảy 24 dặm đến phía Nam xã Hát Môn, thì chia ra một chi làm sông Hát”2... “Sông Hát ở cách huyện Phúc Thọ 17 dặm về phía Đông, do hạ lưu sông Bạch Hạc chảy vào, cửa sông nông, về mùa đông và mùa xuân có thể lội qua được, về mùa hạ và mùa thu, nước lũ đổ đến, nước từ sông này chảy về phía Nam qua các huyện Phúc Thọ, Đan Phượng và Yên Sơn, chảy quanh co 54 dặm đến địa phận huyện Chương Đức tỉnh Hà Nội thì hợp với sông Tích”3.

Như thế, sông Hát (hay sông Đáy) nhận nước từ sông Hồng chảy qua địa bàn ba tỉnh Hà Tây, Nam Hà và Ninh Bình rồi đổ ra cửa biển Thần Phù.

Sách Thủy kinh chú-cuốn sách ra đời cách đây khoảng 1.500 năm, khi mô tả đất Giao Chỉ cũng chỉ bám vào hệ thống sông Diệp Du (tức sông Hồng) và cho biết các nhánh sông khác tương đương với các sông Cà Lồ, sông Đuống, sông Hát, khi ấy là những dòng sông lớn và là mạch máu giao thông quan trọng ở Giao Chỉ. Theo dòng sông Hát, người ta có thể đi từ Mê Linh qua Chu Diên và vào tận Cửu Chân (Thanh Hoá). Sông Hát trong thực tế là đường giao thông chính, cổ nhất và quan trọng nhất nối liền Giao Chỉ với Cửu Chân.

Sông Hát, nơi kết tinh của nhiều huyền thoại mà bộ địa lý học lịch sử đầu tiên của nước ta đã không thể không nhắc đến “Hát Giang ở huyện Phúc Lộc. Tương truyền sông Hát phát nguyên từ Giang Hán, trong sông có cây chiên đàn cao hơn 10 trượng; lâu năm cây già, rễ cây xuyên thông với sông Giang Hán, cá anh vũ đi theo đấy về phía Nam. Các triều bắt cống cá ấy để cúng tế”4.

Sông Hát cũng đã nhiều lần được tô đẹp bằng những áng thơ văn khiến cho người đọc khó lẫn, khó quên. Phạm Đình Hổ, cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX đã từng đứng trên đỉnh núi Viễn Sơn (Sơn Tây) mà nhìn "sông Hát Giang vòng quanh phía Đông như một dải lụa trắng, lại vòng từ phía Bắc ra phía Đông, nước chảy uốn éo quanh co. Lác đác như lá tre điểm xuyết trên tấm lụa, ấy là những chiếc thuyền đi trên mặt sông"5. Và sông Hát sống mãi với lịch sử đất nước bởi vì nơi đây là nơi Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa, nơi chứng kiến những kỳ tích anh hùng của dân tộc cách ngày nay gần 2.000 năm.

Cửa sông Hát bây giờ là nơi giáp giới giữa Trung Châu và Vân Nam cách Hát Môn 3 km về phía Đông Bắc. Đây là cửa sông mới đào vào cuối thế kỷ XIX. Theo trí nhớ của nhân dân địa phương và theo tài liệu khảo sát thực địa của một số nhà nghiên cứu đã công bố thì cửa sông Hát là cống Ba Xuân thuộc thôn Vĩnh Thọ xã Vân Phúc, cách đền Hát Môn 5 km về phía Tây Bắc. Dòng nước từ cống Ba Xuân chảy qua vùng bãi đất mới hình thành của Vân Nam qua Hát Môn. Chắc chắn cửa sông này cũng được hình thành muộn và không có liên quan đến cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Vậy cửa sông Hát thời kỳ Hai Bà Trưng (hay có liên quan đến khởi nghĩa Hai Bà Trưng) ở đâu?

Sông Hồng vốn là một dòng sông có lưu lượng nước rất lớn và có độ dốc cao, nước chảy xiết. Mỗi mùa mưa lũ, dòng nước lại làm thay đổi địa hình hai bên bờ sông, thậm chí có làng trước mùa mưa lũ đang đông vui mà qua mùa mưa lũ đã thành lòng sông. Trái lại có chỗ vốn là lòng sông mà chỉ sau một vài năm đổi dời lại nổi lên thành bãi. Nhiều năm trước đây chúng tôi có dịp đi dọc theo bờ sông Hồng từ huyện lỵ Phúc Thọ xuôi xuống đến xã Liên Hà huyện Đan Phượng để tìm hiểu về tình hình tự nhiên, xã hội, các di tích lịch sử, địa danh, tình hình di dịch dân cư và vấn đề hình thành làng xã trên một đoạn dọc theo bờ sông Hồng dài 15 km và chúng tôi nhận thấy:

1. Về địa danh các làng xã kéo thẳng từ Cẩm Đình (Phúc Thọ) xuống đến Liên Hà (Đan Phượng) hầu hết đều có các từ châu; hà, hồng, sa: thí dụ Trung Châu, Phú Châu, Nam Châu, Hồng Hà, Liên Hồng, Liên Hà, Nại Sa, Sa Khúc…Sở dĩ người ta đặt tên như vậy vì trước đó khu vực này là lòng sông hoặc bãi bồi. Nếu khảo sát lui vào phía trong đê thì hầu như không có các địa danh được gọi theo kiểu này. Nhân dân trong vùng phân biệt rất rõ ràng địa vực “trong đồng", "ngoài bãi"; xóm “trong đồng", xóm "trại"...

2. Về chất đất ở phía bên trong đường ranh giới chúng tôi vừa nêu ở trên là đất thịt hay đất cát pha, còn phía ngoài thì hoàn toàn là đất phù sa, cát bồi.

3. Các truyền thuyết về quá trình khai hoang lập làng cũng như các giấy tờ còn lại của các làng, các họ ở vùng phía ngoài đường ranh giới trên đều xác nhận: hầu hết họ có gốc ở bên kia sông, một số ít thì ở phía trong đường ranh giới chuyển ra.

4. Hầu hết các đền miếu ở phía ngoài đường ranh giới đều mới lập và sao thần tích từ quê cũ ở bên kia sông hay ở phía trong đường ranh giới ra thờ vọng.

Kết hợp tất cả các nguồn tư liệu có được, chúng tôi có thể xác định được ranh giới giữa vùng đất đã ổn định với vùng bãi bồi và qua đó có thể xác định được đã có một thời từ cách đây rất xa bờ sông Hồng chính là đường ranh giới này và đường ranh giới đó vẫn ổn định cho đến ngày nay.

-------------------
1. Tạp chí LSQS số 4-1993. Tên các đơn vị hành chính trong bài viết vẫn được giữ theo thời điểm năm 1993 (Ban Biên soạn).

2, 3. Đại Nam nhất thống chí, tập 4. NXB KHXH, Hà Nội. 1969, tr. 208, 209.

4. Nguyễn Trãi toàn tập, NXB KHXH, Hà Nội, 1976, tr. 223.

5. Phạm Đình Hổ. Vũ trung tùy bút. NXB Trẻ, Tp. HCM, 1989, tr. 17.

« Sửa lần cuối: 08 Tháng Mười Hai, 2016, 09:00:28 pm gửi bởi Giangtvx »

Logged

Giangtvx

Thượng tá
*
Bài viết: 25560

Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ« Trả lời #2 vào lúc: 08 Tháng Mười Hai, 2016, 08:54:56 pm »

Điều này hoàn toàn trùng hợp với những di tích và truyền thuyết ở khu vực Hát Môn hiện nay.

Đền Hát Môn như các sách Đại Việt sử ký toàn thư, Việt điện u linh, Đại Nam nhất thống chí cũng như tất cả các thần tích, ngọc phả viết về Hai Bà Trưng và tướng lĩnh của Hai Bà đều xác nhận là di tích chính và lâu đời nhất, được lập ra ở cửa sông Hát để thờ Hai Bà ngay từ khi Hai Bà mới mất6. Mặc dù từ khi xây dựng cho đến nay, đền đã trải qua rất nhiều lần trùng tu, sửa chữa, nhưng qua ký ức dân gian và các di tích, di vật còn lại thì có thể tin được rằng vị trí của đền chưa từng bị thay đổi, di chuyển. Nói một cách khác đền vẫn ở trên vị trí cũ từ khi mới khởi dựng cho đến nay.

Về kiến trúc, đền Hát Môn không có gì đặc biệt. Phía trong tam quan có nhà tả mạc, hữu mạc, đại bái, nhà thiêu hương, hậu cung. Trong đền có bệ thờ hai cây quéo vì theo truyền thuyết thì Hai Bà khi bị bại trận đã chạy về Hát Môn gặp bà hàng nước và ăn quả quéo quê hương. Miếu thờ bà hàng nước đến nay cũng vẫn còn ở trước cửa đền ngay trên đê Cựu. Nét đặc biệt nhất là ở đền Hát Môn, bài vị Hai Bà Trưng và các đồ thờ đều sơn đen (cũng phải nói thêm là trong đền có một số đồ thờ màu đỏ là do người đời sau mới cung tiến, đấy không phải là đồ thờ gốc). Sách Đại Nam nhất thống chí chép: “Trong đền thờ Bà Trưng, phàm kỳ án và các đồ tự khí hết thảy đều sơn then, tuyệt nhiên không dùng màu đỏ… tương truyền thần mất vì binh khí, nên kiêng màu đỏ giống máu”7. Như thế ở đền Hát Môn đến nay vẫn còn giữ được phong tục này, kết hợp với các di tích ở địa phương và các sách Hậu Hán thư, Thủy kinh chú, Đại Việt sử ký toàn thư, Việt điện u linh… chúng ta có thể tin được rằng Hai Bà Trưng đã hy sinh trong chiến đấu chứ không phải là hai bà "thất thế đành liều với sông" như quan niệm dân gian sau này.

Ở Hát Môn hiện nay vẫn còn dấu tích con đê cổ và ranh giới trong đồng, ngoài bãi, khu tân dân cư và khu cựu dân cư được phân định rất rõ ràng. Khu cựu dân cư nay là nghĩa trang liệt sĩ, xưa có những chiếc cầu bằng đá, tục truyền đó là bến sông. Xóm phường nằm sát khu cựu dân cư vốn là xóm chài thờ đức thánh Thủy-tương truyền là ông thánh được Hùng Vương phái về trị thủy vùng cửa sông Hát. Dân Hát Môn xưa ở chỗ cựu dân cư (phía trong đê cổ) nhưng sau vì vỡ đê dân làng phải đắp con đê mới lui vào phía trong nên họ mới chuyển vào lập làng ở trong đồng (khu vực gần đền Hát Môn). Tình hình ổn định dần, dân làng kéo nhau ra ở Hát Môn trại và Hát Môn trại trở thành khu vực cư trú chính của dân Hát Môn bây giờ.

Ở gần đền Hát Môn xưa có ghềnh Triệu là nơi nước chảy dữ dội, rất nguy hiểm với thuyền bè qua lại. Ký ức dân gian về một vùng cửa sông đầy nguy hiểm đó đã khiến người dân Hát Môn liên tưởng đến cái tên làng quê mình: một cửa sông gầm thét? Dấu tích dòng sông cổ chưa bị lấp hết nay vẫn còn ở Hát Môn các đoạn sông cụt và vũng Mắt Rồng rộng hơn chục héc ta, sâu có chỗ đến 3m và chỉ cách cửa đền Hát Môn khoảng 800m.

Trong khi khảo sát tại địa phương, chúng tôi được ông Hoà (xóm Hát Môn) cho nghiên cứu và sao lại bản đồ của làng vẽ năm 1912 tỉ lệ 1/4.000. Tấm bản đồ này tuy mới vẽ cách đây hơn 80 năm nhưng cũng cung cấp được nhiều thông tin hữu ích về tình hình đất đai và cư dân của Hát Môn xưa.

Từ những nguồn tư liệu ấy, chúng tôi cho rằng sông Hồng trước đây chảy đến sát cửa đền Hát Môn và chính khu vực cửa đền Hát Môn hiện nay mới là cửa sông Hát có liên quan đến cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng và chắc chắn cái tên Hát Môn là cái tên cổ được dịch nguyên nghĩa từ cửa sông Hát mà ra. Cũng tại cửa đền Hát Môn nay vẫn còn dấu tích Bãi Cát dài và cồn đất cao hình con rùa cổ vươn dài vào gần cửa đền gọi là đồng Mu Rùa, xưa cây cối mọc um tùm-tương truyền là nơi Hai Bà Trưng tổ chức hội thề và xuất trận.

Thiên Nam ngữ lục, thiên sử ca dân gian thế kỷ XVII, không chỉ cho biết rõ những lý do mục tiêu của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng mà còn mô tả cảnh quan vị trí của Hát Môn lúc đó:

“Hát Môn có thế dụng binh

Sông sâu làm cứ, rừng xanh làm nhà".

Hai Bà Trưng đã chọn sông nước Hát Môn làm căn cứ, chọn rừng xanh Hát Môn làm nhà, chọn Bãi Cát dài trên đồng đất Hát Môn làm quảng trường lập đài thề đại hội non sông rồi toả ra giải phóng đất nước...

Sông sâu Hát Môn từ lâu đã thành đồng bãi xóm làng, rừng xanh Hát Môn thậm chí không còn trong ký ức. Thế nhưng đền Hát Môn-đài kỷ niệm chính của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng đã gần 2.000 năm vẫn còn đây và mãi mãi còn đây trường tồn cùng đất nước, núi sông này.

------------------
6. Đại Nam nhất thống chí, Sđd , tr. 222.

Đại Việt sử ký toàn thư, tập 1. NXB KHXH, Hà Nội, 1983, tr. 147.

Việt điện u linh. NXB Cửu Long, 1992, tr. 70.

7. Đại Nam nhất thống chí, Sđd, tr. 222.

Logged

Giangtvx

Thượng tá
*
Bài viết: 25560

Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ« Trả lời #3 vào lúc: 08 Tháng Mười Hai, 2016, 08:58:18 pm »

QUÊ HƯƠNG VÀ NGÀY GIỖ CỦA LÝ NAM ĐẾ8
LÊ THÀNH LÂN
Trong suốt hơn một nghìn năm Bắc thuộc, nhân dân ta liên tiếp nổi lên khởi nghĩa chống lại ách thống trị của bọn phong kiến phương Bắc. Đất nước ta như một lò lửa đang nhen nhóm, lúc cháy âm ỉ, lúc bùng lên rực sáng. Cuộc khởi nghĩa trước chuẩn bị tiền đề, khơi nguồn cho cuộc khởi nghĩa sau nổ ra mạnh mẽ hơn, rộng khắp hơn. Lòng yêu nước căm thù giặc của thế hệ này hun đúc truyền lại cho thế hệ sau. Nhiều lãnh tụ của cuộc khởi nghĩa này là con em của các tướng lĩnh của cuộc khởi nghĩa trước.

Trong hàng ngàn cuộc nổi dậy có hai cuộc khởi nghĩa đã thành công và giành được độc lập dân tộc trong một thời gian ngắn, nhưng ý nghĩa rất to lớn, dư âm rất vang dội. Đó là cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng thế kỷ thứ I và cuộc khởi nghĩa của Lý Bí thế kỷ thứ VI.

Sau 4 năm độc lập dưới thời Hai Bà Trưng (40-43) là 5 thế kỷ bị Bắc thuộc, rồi mới đến thời Tiền Lý do Lý Nam Đế khai sáng, tồn tại được 59 năm, từ năm 544 đến 602. Tiếp theo đó lại là hơn 300 năm Bắc thuộc nữa mới tới thời tự chủ, bắt đầu từ họ Khúc (905-938). Cũng có thể tính rằng, phải mất gần 340 năm mới tới kỷ nguyên độc lập, mở đầu bằng việc Ngô Quyền xưng Vương vào năm 939.

Sau 3 năm vừa khởi nghĩa giành chính quyền, vừa tiến hành hai cuộc kháng chiến chống quân xâm lược nhà Lương (541-543), Lý Bí xưng là Lý Nam Đế, đặt tên nước là Vạn Xuân, đóng đô ở Long Biên làm vua được 5 năm (544-548). Thực ra ông chỉ có một năm để xây dựng chính quyền, còn 4 năm sau là kháng chiến chống xâm lược.

Ba nhà vua tiếp theo của triều Tiền Lý là Triệu Quang Phục-Triệu Việt Vương (Dạ Trạch Vương, 548-571), Lý Thiên Bảo-Đào Lang Vương (548-555) và Lý Phật Tử-Hậu Lý Nam Đế 555-602). Thời gian làm vua của các vị vua này có dài hơn, nhưng không quản lý được cả nước, chỉ cát cứ trên những vùng đất không rộng và luôn luôn phải kháng chiến, có lúc lại lục đục đánh nhau.

Việc nghiên cứu về thời Tiền Lý cho đến nay còn chưa được nhiều. Lúc đó ta chưa thể có sử sách, ký ức dân gian bị hạn chế bởi hoàn cảnh trên, khiến cho việc nghiên cứu của chúng ta ngày nay gặp nhiều khó khăn. Trung Quốc lúc đó vào thời Nam-Bắc Triều, rất rối ren; các cuốn sử của Trung Quốc như Lương thư, Trần thư có ghi chép được đôi điều về tình hình nước ta, nhưng cũng rất sơ lược.

Đầu kỷ nguyên độc lập, chắc sử sách của các triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê chưa chép được bao nhiêu; đến triều Lý, Trần thì đã chép được nhiều bản. Đáng tiếc là phần lớn các bộ cổ sử đó đã bị thất truyền, chủ yếu do sự hủy hoại và vơ vét của giặc Minh trong 20 năm thống trị, từ 1407 đến 1427, chúng thực hiện chính sách “dù một mảnh giấy, một nét chữ, cũng phải hủy diệt hết”. Chỉ còn cuốn Việt sử lược được viết vào đời Trần, mãi đến triều Thanh mới được in ra ở Trung Quốc. Sang triều Lê, khi viết sử, Ngô Sĩ Liên phải than rằng: "Sách vở cả nước thành đống tro tàn". Tình trạng thiếu tư liệu đó khiến cho khi viết về quá khứ xa xôi của dân tộc, nhiều chỗ không được rõ, có đôi chỗ thiếu nhất quán và không phải không có chỗ sai. Để bổ sung cho chính sử nhiều khi phải tham khảo thêm dã sử như truyền thuyết dân gian, ngọc phả, thần phả. Trong một chừng mực nào đấy, có nhẽ bây giờ chúng ta vẫn phải làm như vậy. Nhiều thế hệ các nhà sử học đã phát hiện và giải quyết được nhiều vấn đề nhưng vẫn còn những vấn đề đã được đặt ra nhưng chưa được lý giải một cách trọn vẹn và triệt để. Ở đây, chúng tôi muốn bàn về ngày giỗ và quê hương của Lý Nam Đế.

Ngày nay, chúng ta chỉ còn biết tên Lý Nam Đế qua thư tịch cổ bằng chữ Hán. Chữ này có hai âm là Bôn và Bí. Lúc đầu khi phiên ra quốc ngữ, các nhà sử học dùng âm Bôn, sau này, do thấy các địa phương thờ ông đều gọi quả bí là quả bầu, có ý kiêng tên huý của ông, nên các nhà sử học đi đến khẳng định tên ông là Lý Bí 9. Trong bài viết, chúng tôi dùng chữ Bí, chỉ những chỗ trích dẫn, chúng tôi để nguyên chữ Bôn, nếu nguyên tác viết như vậy.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn