Sức mạnh binh vận và đời sống trong vùng giải phóng Bình Định
Sức mạnh binh vận và đời sống trong vùng giải phóng Bình Định
Trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ cứu nước, bên cạnh những trận đánh ác liệt trên chiến trường, phong trào cách mạng Bình Định còn được giữ vững bởi sức mạnh của công tác binh vận, xây dựng vùng giải phóng, chăm lo đời sống Nhân dân và bám dân, bám đất kiên trì. Theo tư liệu lịch sử, trong 6 tháng đầu năm 1966, mũi đấu tranh binh vận đã vận động 1.522 binh sĩ ra rã ngũ. Đây chủ yếu là lực lượng cộng hòa, bảo an — những lực lượng được địch dùng để kìm kẹp Nhân dân và bảo vệ bộ máy ngụy quyền ở cơ sở. Đặc biệt, tại Phù Cát và Tuy Phước, có 2 đại đội bảo an ra rã ngũ tập thể. Kết quả ấy cho thấy chính nghĩa cách mạng đã tác động mạnh vào hàng ngũ địch, làm chúng phân hóa, dao động từ bên trong. Đến giữa năm 1966, vùng giải phóng miền núi của Bình Định không những được giữ vững mà còn mở thêm 5 xã ở vùng thấp Vân Canh. Đây là kết quả quan trọng trong bối cảnh Mỹ - ngụy và quân chư hầu tăng cường càn quét, đánh phá, lấn chiếm vùng giải phóng. Ở đồng bằng, phong trào gặp nhiều khó khăn hơn. Ta mất khoảng 15 vạn dân, vùng giải phóng và làm chủ chỉ còn khoảng 350.000 người. Tuy vậy, phía bắc tỉnh vẫn giữ được vùng giải phóng cơ bản. Phía nam, dù một số nơi bị địch lấn chiếm, nhưng cán bộ và du kích vẫn kiên trì bám dân, bám đất, khôi phục phong trào tại các địa bàn như Phước Nghĩa, Phước Sơn, Nhơn Hậu. Không chỉ chiến đấu và giữ đất, vùng giải phóng vẫn tiếp tục chăm lo đời sống văn hóa, giáo dục. Tại vùng giải phóng phía bắc có 23.000 học sinh và 5.000 học viên bình dân văn hóa. Ở miền núi, phong trào bình dân học vụ Vĩnh Thạnh phát triển khá. Những lớp học trong bom đạn là minh chứng cho khát vọng học tập, xây dựng đời sống mới và niềm tin vào ngày mai độc lập. Về sản xuất, dù Đông - Xuân 1965 - 1966 bị ảnh hưởng bởi những cuộc hành quân lớn của địch ở phía bắc tỉnh, diện tích trồng hoa màu và lúa rẫy vẫn tăng, nhất là ở Phù Mỹ. Cùng với đó, công tác phục vụ tiền tuyến được đẩy mạnh, huy động 469.000 ngày công và 1.248 thanh niên thoát ly. Đây là nguồn lực quan trọng tiếp sức cho chiến trường, thể hiện tinh thần “tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”. Nhìn lại những năm tháng “hoa lửa”, đoạn tư liệu này cho thấy sức mạnh bền bỉ của quân dân Bình Định không chỉ nằm ở những trận đánh lớn, mà còn ở lòng dân, ở những cuộc vận động binh sĩ rã ngũ, ở lớp học bình dân, ở ruộng rẫy sản xuất và những ngày công phục vụ chiến trường. Chính sự bền gan, kiên trì ấy đã góp phần giữ vững phong trào cách mạng Bình Định trong giai đoạn chiến tranh ác liệt.



