Khác

Tác chiến hiệp đồng quân, binh chủng qui mô lớn trong Chiến dịch Hồ Chí Minh

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh giành thắng lợi kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đồng thời kết thúc vẻ vang sự nghiệp đấu tranh kiên cường, bất khuất giải phóng dân tộc kéo dài suốt 30 năm của nhân dân ta (1945 - 1975). Thắng lợi đó là kết tinh của nhiều yếu tố, thể hiện sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng, sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc, nét đặc sắc của nghệ thuật quân sự Việt Nam… trong đó tác chiến hiệp đồng quân, binh chủng qui mô lớn trong Chiến dịch Hồ Chí Minh là một trong những nét đặc sắc về nghệ thuật tác chiến làm nên thành công của Chiến dịch.

Đồng Tháp18/08/2026xã Tân Đông (Xã Tân Đông)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Sau khi Phan Rang - Xuân Lộc thất thủ, ngày 21/4/1975, Tổng thống chính quyền Sài Gòn Nguyễn Văn Thiệu buộc phải từ chức; đến ngày 25/4/1975, địch đã mất hầu hết các vị trí then chốt trong tuyến phòng thủ từ xa quanh Sài Gòn. Ngày 31/3/1975, Bộ Chính trị họp, quyết định: “Từ giờ phút này, trận quyết chiến chiến lược cuối cùng của quân và dân ta đã bắt đầu..., cần nhanh chóng giải phóng Sài Gòn trong thời gian sớm nhất, tốt nhất là trong tháng 4”[1]. Ngày 9/4/1975, ta bắt đầu cuộc chiến đấu tạo thế, phối hợp trong, ngoài. Đến ngày 14/4/1975, Bộ Chính trị chính thức quyết định đổi tên Chiến dịch giải phóng Sài Gòn - Gia Định thành “Chiến dịch Hồ Chí Minh”[2], thực hiện đòn quyết chiến chiến lược cuối cùng. Mục đích chủ yếu của Chiến dịch Hồ Chí Minh là tiêu diệt tập đoàn phòng ngự lớn nhất của địch ở khu vực Sài Gòn - Gia Định, đánh đổ hoàn toàn đầu não trung ương của chúng. Từ phương châm và tư tưởng chỉ đạo tác chiến “thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng”, đồng thời với việc tổ chức trận then chốt tiêu diệt các sư đoàn chủ lực mạnh của địch ở tuyến phòng thủ vòng ngoài, không cho chúng co cụm lớn về Sài Gòn, Bộ Tư lệnh (BTL) Chiến dịch xác định phải chuẩn bị chu đáo, tổ chức các mũi thọc sâu có sức đột kich mạnh đánh nhanh vào các mục tiêu chủ yếu trong nội đô Sài Gòn.

Từ ngày 26 đến ngày 28/4/1975, ta chọc thủng tuyến phòng ngự vòng ngoài, đập tan sự chống cự của các sư đoàn địch, bao vây cô lập Sài Gòn. Từ chiều 28/4/1975, Bộ Tổng Tham mưu địch mất hiệu lực chỉ huy; các tướng chỉ huy bắt đầu tháo chạy ra nước ngoài. Ngày 29/4, ta tổng tiến công, đánh chiếm các địa bàn quan trọng ở vùng ven, làm tê liệt hoàn toàn sân bay Tân Sơn Nhất, chuẩn bị thế trận tiến công vào nội đô. Sáng ngày 30/4/1975, ta tổng công kích vào nội thành Sài Gòn, đánh chiếm các mục tiêu chiến lược; đến 11 giờ 30 phút, ta chiếm và cắm cờ trên nóc Dinh Độc Lập, bắt toàn bộ nội các chính quyền địch, buộc chúng phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện; kết thúc chiến dịch.

Đúng như Bộ Chính trị nhận định, đây là “chiến dịch hiệp đồng binh chủng”[3] qui mô lớn với phương châm và tư tưởng chỉ đạo “thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng”, giành thắng lợi hoàn toàn, triệt để, trong thời gian ngắn.

Bộ Chỉ huy Chiến dịch xác định: Sài Gòn là “Thủ đô” (nơi tập trung các cơ quan đầu não của chính quyền và quân đội tay sai); lực lượng của địch còn đông và được trang bị vũ khí, phương tiện hiện đại, cùng với số lượng lớn quân địa phương nên chúng sẽ ngoan cố chống cự hết sức quyết liệt. Trên cơ sở đánh giá đúng tình hình, ta đã tập trung lực lượng mạnh, áp đảo, gồm: 5 quân đoàn binh chủng hợp thành (4 quân đoàn và 1 đơn vị tương đương quân đoàn); 1 lữ đoàn, 10 trung đoàn đặc công và bộ binh; 17 tiểu đoàn bộ binh và biệt động, lực lượng dân quân tự vệ; 35.000 cán bộ địa phương và hàng triệu quần chúng. Tổng quân số lên đến 280.000 quân chiến đấu cùng 170.000 quân hậu cần… Đến ngày 25/4/1975, so sánh lực lượng chủ lực đôi bên (ta 3 - địch 1)[4]; đặc biệt, tinh thần, ý chí “quyết chiến, quyết thắng” thì ta chiếm ưu thế tuyệt đối, trong khi địch hoang mang suy sụp, rối loạn cực độ và đang trên đà tan rã. Căn cứ quyết tâm và kế hoạch chiến dịch được phê chuẩn, Bộ Tư lệnh Chiến dịch tổ chức 5 cánh quân tiến công (đột phá, thọc sâu) trên 5 hướng (Bắc, Tây Bắc, Đông, Đông Nam, Tây và Tây Nam). Thực hành tác chiến hiệp đồng quân, binh chủng trên tổng thể chiến dịch và từng hướng rất cụ thể.

Theo kế hoạch hiệp đồng, trước 6 giờ 30 ngày 30/4/1975, các cánh quân phải chiếm được các vị trí ngoại ô thành phố; các đơn vị pháo chiến dịch ngừng bắn, chỉ có pháo của các lực lượng tiến công trước bắn chi viện theo yêu cầu của bộ binh, xe tăng trên từng hướng khi tiến công vào trung tâm thành phố. Từ 6 giờ 30 phút (giờ thống nhất tổng công kích vào các mục tiêu được phân công), việc đánh chiếm trung tâm thành phố được hiệp đồng rất chặt chẽ: Khi địch đang ổn định, ta tập trung hơn địch ở trọng điểm, đánh chắc thắng; khi địch sơ hở, ta chủ động đánh chia cắt, bao vây, đánh viện binh, đánh đường rút lui là chính; khi đánh vào sào huyệt cuối cùng của địch, ta lại tập trung lực lượng cao nhất và đảm bảo chắc thắng. Các tình huống trong kế hoạch do BTL Chiến dịch dự kiến cơ bản là đúng, từ khi mở đầu đến khi kết thúc thắng lợi, BTL Chiến dịch hầu như không phải xử trí tình huống ngoài dự kiến.

Cùng với hiệp đồng chặt chẽ các binh đoàn chủ lực trong toàn chiến dịch, ta còn phát huy triệt để thế mạnh của từng binh chủng, trong từng tình huống một cách thích hợp, tạo nên sức mạnh tổng hợp tiến công địch. Lực lượng tăng - thiết giáp được sử dụng trong tiến công hành tiến làm lực lượng đột kích mạnh, cơ động cao, dẫn đầu các binh đoàn thọc sâu, nhanh chóng đánh chiếm các mục tiêu chiến lược. Lực lượng phòng không bám sát đánh địch trên không, phong tỏa sân bay, linh hoạt đánh các mục tiêu của địch ở mặt đất bảo vệ các lực lượng, các binh đoàn thọc sâu. Cùng với tiến công trên mặt đất, ta còn hiệp đồng với không quân uy hiếp tinh thần địch từ trên không bằng việc sử dụng máy bay A-37 thu được của địch đánh Dinh Độc Lập, phá sân bay Tân Sơn Nhất, làm cho địch hoàn toàn bất ngờ, rối loạn. Pháo binh chiến dịch chế áp có hiệu quả các mục tiêu, chi viện cho các cánh quân nhanh chóng phá vỡ tuyến phòng thủ của địch, tiến vào Sài Gòn. Trong quá trình chuẩn bị và thực hành tác chiến, lực lượng công binh tích cực bảo đảm mạng đường vận tải, bảo đảm vượt sông, khắc phục vật cản, rà phá bom, mìn, mở đường cho các quân đoàn chủ lực, các đơn vị binh khí kỹ thuật cơ động thần tốc, đáp ứng yêu cầu tác chiến. Sử dụng đặc công luồn sâu, đánh hiểm, đánh chiếm và giữ chắc các cây cầu trọng yếu trên các trục đường giao thông quan trọng, tạo điều kiện cho các hướng nâng cao tốc độ tiến công, dẫn đường và cùng các binh đoàn thọc sâu đánh chiếm những mục tiêu chiến lược. Các lực lượng: Phòng hóa, thông tin liên lạc, vận tải, theo chức năng, nhiệm vụ đã nắm chắc ý định tác chiến chiến dịch, bảo đảm đầy đủ, kịp thời, vững chắc, nhất là bảo đảm cho các đơn vị thọc sâu, góp phần xứng đáng vào thắng lợi của chiến dịch. Hiệp đồng chặt chẽ giữa lượng cơ động chiến lược với lực lượng tại chỗ, lực lượng vũ trang địa phương, phối hợp tiến công quân sự và nổi dậy của quần chúng đánh tiêu diệt, đập vỡ từng mảng lớn trong hệ thống phòng thủ chiến lược của địch, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Không chỉ là sự hiệp đồng giữa các quân, binh chủng trong quân đội mà Chiến dịch Hồ Chí Minh còn có sự hiệp đồng giữa Công an nhân dân và Quân đội nhân dân. Để tiến vào nội đô, các binh đoàn chủ lực đã phối hợp với lực lượng an ninh tổ chức những trận đánh lớn, quyết liệt với quân địch ở vòng ngoài như Phan Rang, Xuân Lộc… Ở nội đô, nhiệm vụ của các lực lượng đặc công, biệt động, an ninh vũ trang, tự vệ là chủ động đánh chiếm và bảo vệ các cầu, không để địch phá hoại; hướng dẫn và chỉ đường cho các mũi đột kích của quân chủ lực, khống chế các lực lượng địch tại địa bàn, phát động quần chúng nổi dậy đánh chiếm các mục tiêu. Lực lượng quân đội và an ninh miền Nam đều huy động tổng lực những đơn vị tinh nhuệ, chủ lực tham gia tiến công ở cả 5 hướng, đánh chiếm các mục tiêu quan trọng. Trong giờ phút cuối của chính quyền Sài Gòn, cơ sở của lực lượng an ninh phối hợp cùng các lực lượng khác tiếp cận, tác động Tổng thống Dương Văn Minh ra lệnh ngừng bắn vào 9 giờ 30 phút và tổ chức ghi âm, phát thanh lời tuyên bố đầu hàng không điều kiện trên Đài phát thanh Sài Gòn vào trưa 30/4/1975 và sau đó lực lượng Quân đội và Công an hiệp đồng, tác chiến tiếp quản các cơ sở, mục tiêu, tài liệu của địch an toàn.

Tác chiến hiệp đồng quân, binh chủng qui mô lớn đã góp phần làm nên thắng lợi trọn vẹn cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, đỉnh cao là thắng lợi của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Đến nay, những kinh nghiệm trong hiệp đồng tác chiến quân, binh chủng trong Chiến dịch Hồ Chí Minh vẫn còn giá trị lý luận và thực tiễn cần được nghiên cứu, kế thừa, phát triển trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 36, Nxb CTQG, H, 2004, tr.95 - 96.  

[2]Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 -

1975), tập 8, Nxb QĐND, H, 2008, tr.426.

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 35, Nxb CTQG, H, 2004, tr.193.      

[4] Thượng tướng, Nhà giáo nhân dân, Giáo sư Hoàng Minh Thảo, Bàn về nghệ thuật quân sự, Nxb CTQG, H, 2008, tr.297.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Tác chiến hiệp đồng quân, binh chủng qui mô lớn trong Chiến dịch Hồ Chí Minh | Câu chuyện thời hoa lửa