Tấm ảnh lịch sử và những ngày cuối cùng của cuộc chiến
Tấm ảnh lịch sử và những ngày cuối cùng của cuộc chiếnĐến Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, khách tham quan sẽ được nhìn lại tấm ảnh Trung đoàn 141, Sư đoàn 312 đánh chiếm tiểu khu Bình Dương trong ngày cuối cùng của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử tại phần trưng bày “Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975”.
Lần theo tấm ảnh này, tôi tìm gặp người chỉ huy Trung đoàn ngày ấy: Thiếu tá Nguyễn Văn Được, Trung đoàn phó Trung đoàn 141, Sư đoàn 312 (nay là Thượng tướng, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng). Khi nghe tôi hỏi về trận đánh lịch sử trưa 30.4.1975, người chỉ huy trẻ năm xưa như đang sống lại với thời khắc của 40 năm về trước. Ông hào hứng: Suốt 13 ngày đêm hành quân không nghỉ, vượt trên 1.700 cây số, từ đại bản doanh Hà Trung - Thạch Thành, Thanh Hóa, ngày 15.4.1975, toàn bộ đội hình Trung đoàn chúng tôi và Sư đoàn 312 đã có mặt tại Đồng Xoài - Bình Dương, đảm bảo an toàn đúng thời gian quy định. Tại đây, Tỉnh ủy Bình Dương và các lực lượng vũ trang địa phương đã chuẩn bị dự trữ lương thực, giúp chúng tôi nhanh chóng đảm bảo ăn uống, sinh hoạt cho bộ đội, nắm lại tình hình địch - ta, sẵn sàng bước vào chiến đấu. Sau vài ngày ở lại Đồng Xoài làm công tác chuẩn bị, chúng tôi hành quân bộ theo đường Lệ Xuân xuống chiến khu Đ. Đến nơi, chúng tôi được đồng chí Nguyễn Chuông - Tư lệnh Sư đoàn thông báo: Ngày 24.4, Quân đoàn I giao nhiệm vụ cho Sư đoàn 312 như sau: 1. Cùng bộ đội địa phương tỉnh Bình Dương và cụm pháo Lữ đoàn 45 chi viện hỏa lực tiến công đánh chiếm căn cứ Bình Lợi và Bình Mỹ. 2. Tiến công tiêu diệt căn cứ Phú Lợi, chốt chặn các trục đường số 13, 14, 15, không cho Sư đoàn 5 co cụm về Sài Gòn ; tiêu diệt từng bộ phận, tiến đến tiêu diệt toàn bộ Sư đoàn 5 ngụy ở Lai Khê, Bến Cát. 3. Phối hợp với lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương tiến công giải phóng thị xã và toàn tỉnh Bình Dương. 4. Làm lực lượng dự bị của Quân đoàn I trên hướng bắc Sài Gòn. Qua cơ quan quân báo Quân đoàn, chúng tôi được biết lúc này, lực lượng phòng thủ của địch trên hướng bắc Sài Gòn gồm Sư đoàn 5, Lữ đoàn Xe bọc thép số 1; 7 tiểu đoàn và 6 đại đội bảo an, phòng vệ dân sự. Tuyến phòng thủ của địch được thiết lập dọc các trục đường số 13, 14, 15 từ cầu Bình Triệu, cầu Ông Đen đến Lái Thiêu, Tân Uyên, Phú Lợi, Bình Dương. Đáng chú ý nhất là trên đường 13, đoạn từ Lai Khê đến Bến Cát, địch bố trí nhiều trận địa pháo tự hành và xe tăng để bảo vệ Sở chỉ huy Sư đoàn 5 ngụy, sẵn sàng cơ động ứng phó; trường hợp nếu bị ta tiến công mạnh, sẽ co cụm về Sài Gòn. Ngày 26-4, Tư lệnh Nguyễn Chuông chính thức giao nhiệm vụ cho Trung đoàn chúng tôi: Tăng cường Tiểu đoàn 2 cho Trung đoàn 165 thực hành bao vây tiến công căn cứ Phú Lợi; toàn bộ lực lượng còn lại của Trung đoàn, được tăng cường một Đại đội xe bọc thép, làm lực lượng dự bị của Sư đoàn. Trước mắt, Trung đoàn phối hợp hiệp đồng với Pháo binh và Tiểu đoàn 2 bộ đội địa phương Thủ Dầu Một tiến công địch ở cụm cứ điểm Bình Cơ - Bình Mỹ, khai thông trục đường số 16, tạo điều kiện cho toàn bộ đội hình Sư đoàn vào chiếm lĩnh vị trí xuất phát tiến công trên cánh bắc Sài Gòn đánh vào Bộ Tổng tham mưu Ngụy. Sau khi nhận nhiệm vụ, Thường vụ Đảng ủy và Ban Chỉ huy Trung đoàn hội ý chớp nhoáng thống nhất quyết tâm tác chiến, phân công nhiệm vụ cho từng tiểu đoàn, cử cán bộ trực tiếp đi từng hướng, từng mũi... Thực hiện phương án tác chiến của Sư đoàn, trước tiên, Trung đoàn phối hợp với Tiểu đoàn 2 Phú Lợi (bộ đội địa phương Bình Dương) triển khai tiến công cứ điểm Bình Cơ - Bình Mỹ, mở thông đường 16, để đội hình Sư đoàn, Quân đoàn vào chiếm lĩnh, triển khai lực lượng áp sát Sài Gòn trong đêm 27-4. Căn cứ tình hình thực tế, chúng tôi quyết định sử dụng Tiểu đoàn 3 cùng với Tiểu đoàn 2 Phú Lợi đánh Bình Cơ - Bình Mỹ. Trận đánh này đặt dưới sự chỉ huy Tư lệnh Sư đoàn Nguyễn Chuông và đồng chí Một Hữu - Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Bình Dương, nên Ban Chỉ huy Trung đoàn phân công anh Nguyễn Trưởng - Tham mưu trưởng Trung đoàn trực tiếp chỉ huy lực lượng của Trung đoàn 141. Chập tối ngày 27-4, trận tiến công giải phóng Bình Cơ - Bình Mỹ bắt đầu và diễn ra mau lẹ. Tiểu đoàn 306 quân ngụy khét tiếng gian ác ở Chiến khu Đ bị đánh tan tác. Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 141 và Tiểu đoàn 2 bộ đội địa phương Bình Dương nhanh chóng làm chủ mục tiêu. Vốn đã hoang mang dao động từ trước, nay lại mất Bình Cơ - Bình Mỹ, toàn bộ lực lượng địch chốt rải dọc đường 16 hoảng loạn chạy về Sài Gòn. Không cho Sư đoàn 5 ngụy co cụm về Sài Gòn, tiến tới tiêu diệt toàn bộ quân địch trên địa bàn thủ Dầu Một (Bình Dương), Trung đoàn chúng tôi là lực lượng dự bị được lệnh trong đêm 29-4 phải cơ động khẩn trương vào tập kết ở khu vực cầu Thê Ụt, sẵn sàng cơ động đánh địch trên cả ba hướng: Phú Lợi, thị xã Thủ Dầu Một, đường 13 và đường 14. Trong khi Tiểu đoàn 3 và bộ đội địa phương nhanh chóng làm chủ căn cứ Bình Cơ - Bình Mỹ thì Tiểu đoàn 2 tăng cường cho Trung đoàn 165 đã cùng đơn vị bạn triển khai tiến công căn cứ Phú Lợi. Từ sáng sớm ngày 30-4, trận tiến công của Trung đoàn 141 vào căn cứ Phú Lợi bắt đầu. Địch không có đường lui đã co cụm về trung tâm căn cứ chống cự hết sức quyết liệt. Khi có sự hiệp đồng chặt chẽ giữa bộ binh và xe tăng, trận đánh của ta diễn biến nhanh, thuận lợi hơn. Vào lúc 10 giờ 30 phút ngày 30-4, Quân giải phóng làm chủ hoàn toàn căn cứ Phú Lợi. Trước diễn biến mau lẹ của tình hình, cũng trong sáng ngày 30-4, anh Hùng Phong - Phó Chính ủy Quân đoàn, anh Nguyễn Chuông - Tư lệnh Sư đoàn và anh Đỗ Trường Quân - Phó Chính ủy Sư đoàn trực tiếp giao nhiệm vụ cho Trung đoàn chúng tôi tổ chức một lực lượng bộ binh được tăng cường một Đại đội thiết giáp nhanh chóng cơ động thọc sâu vào thị xã Thủ Dầu Một, Lai Khê, đánh chiếm Trường Sỹ quan Công binh. Bàn bạc thống nhất trong Ban Chỉ huy Trung đoàn xong, tôi chỉ huy lực lượng đột kích thọc sâu gồm Đại đội 2 của Tiểu đoàn 1 và Đại đội Tăng thiết giáp tăng cường. Sau khi làm chủ căn cứ Lai Khê, qua khai thác tù binh, chúng tôi được biết: Sáng ngày 30/4, khi căn cứ Phú Lợi bị Quân giải phóng tiến công, Chuẩn tướng Lê Nguyên Vĩ - Tư lệnh Sư đoàn 5 Ngụy lệnh cho Trung đoàn 9 cơ động lên ứng cứu, nhưng không thực hiện được. Một phần vì đường 13 và đường 14 đã bị ta kiểm soát, chia cắt, phần khác vì binh lính địch chẳng còn chút nhuệ khí, động cơ nào nữa để đánh đấm. Mất các đường 13, 14, Sư đoàn 5 của ngụy ở căn cứ Lai Khê - Bến Cát dường như bị bao vây, không lối thoát. Thực hiện kế hoạch tác chiến của Sư đoàn, tối 29-4, lực lượng đột kích thọc sâu chúng tôi bí mật, khẩn trương cơ động lên Bến Cát, bao vây Lai Khê. Gom mấy thành phần , lực lượng này khoảng chừng một tiểu đoàn thiếu. Số còn lại cơ động về phía Chơn Thành (Bắc Lai Khê) để đánh thọc xuống. Tôi trực tiếp chỉ huy bộ binh, xe tăng phát triển theo đường 13 đánh lên; hình thành thế hợp vây Sở chỉ huy Sư đoàn 5 ngụy tại Lai Khê. Lúc này, Sư đoàn 5 ngụy đã bị các lực lượng của ta đánh cho tơi tả dọc trục đường số 13 nên lực lượng thọc sâu của chúng tôi phát triển khá thuận lợi; đánh vào căn cứ của Sư đoàn 5 ngụy ở Lai Khê sớm hơn cánh phía bắc của Sư đoàn. Khi chúng tôi tiến vào Lai Khê, gần như toàn bộ quân địch ở đây không có một sự phản ứng nào đáng kể. Trước hỏa lực rất mạnh của ta cấp tập vào căn cứ địch và xe tăng hùng dũng lao tới, một số tên hoảng sợ chui xuống hầm ngầm, trong đó có Chuẩn tướng Tư lệnh Sư đoàn Lê Nguyên Vĩ. Một số nhanh nhảu đầu hàng để được bảo toàn mạng sống, trong đó có tên Đại tá - Tư lệnh phó Sư đoàn. Vừa lệnh cho anh em truy quét trên mặt đất, tôi vừa cho một lực lượng áp sát hầm ngầm Sở chỉ huy Sư đoàn 5, bịt hết lỗ thông hơi, chất cỏ rác đốt, quạt cho khói vào hầm, buộc chúng bị sặc khói phải ngoi ra. Chỉ một lúc mấy đứa mở cửa bung ra, mặt mũi xám ngoét chẳng khác gì đám chuột đồng bị hun khói. Sau mấy phút im ắng, một số anh em đạp cửa, chui xuống hầm. Hầm chỉ huy của Sư đoàn 5 ngụy được kết cấu hai tầng, khá rộng; tầng dưới vừa để làm việc vừa tránh được đạn pháo. Vào phòng của Lê Nguyên Vĩ, thấy y đã tự sát nằm gục cạnh bàn làm việc; đầu bị vỡ. Vĩ đã tự kết liễu đời mình bằng chính khẩu súng côn mà y đã dùng để gây tội ác. Có lẽ phát thứ nhất vì một nguyên cớ gì đó, y bắn trượt quai hàm, phát thứ hai viên đạn từ dưới cằm xuyên lên đỉnh đầu. Trên bàn làm việc của Lê Nguyên Vĩ có mấy tờ báo Sài Gòn, đặc biệt có tờ giấy ghi mấy chữ : "nhục nhã, nhục nhã vì tiền, nhục nhã!". Chứng kiến viên tướng giặc đã chết, tôi lệnh cho anh em: "Để mặc xác nó ở đó, tất cả tập trung tảo trừ". - Được, mày cho anh em xuống hầm lôi thằng Vĩ lên! Tôi gọi mấy anh em xuống đưa xác Lê Nguyên Vĩ lên đặt trên nền một căn nhà gần đó. Anh Chuông cho gọi tôi và mấy anh em lại đứng gần xác Lê Nguyên Vĩ để chụp ảnh làm kỉ niệm. Có vài anh lại, nhưng tôi thì không. Thấy vậy, anh Chuông sẵn giọng: - Sao vậy Được, mày không nghe tao nói gì à ? - Tôi vừa trả lời anh, vừa cười: “Em có nghe, em có điếc đâu, nhưng chụp ảnh với xác thằng tướng bại trận nhục nhã thì hay ho gì, em không chụp. Thiếu gì cảnh để anh em chụp ảnh lưu niệm. - À à, cái lý của trai Quảng khá đấy, tôi chịu ông rồi - anh Chuông cười bả lả. Lúc này đã gần chiều tối ngày 30-4. Nhìn lá cờ giải phóng đón gió phần phật tung bay trên cứ điểm địch ở Lai Khê, cộng với tin Sài Gòn đã về ta vào lúc 11 giờ 30 phút ngày hôm đó, anh em chúng tôi không nén nổi sự vui sướng tột cùng và bồi hồi xúc động. Sau phút giây sung sướng bột phát dâng trào, ôm nhau nhảy múa hò reo cùng những người lính trẻ, tôi lại trở về khoảng lặng của riêng mình để ngược dòng kí ức. Vậy là, kể từ cái đêm tôi bỏ làng nhảy núi tìm theo bộ đội giải phóng đến ngày toàn thắng của cuộc kháng chiến chống Mỹ, ngày mà tôi và đồng đội cắm ngọn cờ giải phóng trên căn cứ Lai Khê của Sư đoàn 5 ngụy, ngày mà Sài Gòn - dinh lũy cuối cùng của chính quyền Sài Gòn thuộc về ta, đã ngót 15 năm. Hành trình 15 năm cùng đồng đội, cùng toàn dân tộc từ trong đêm trường mịt mù gần như vô vọng, tôi đã có gần như tất cả. Hạnh phúc dâng trào! Chính trong thời khắc đó, tim tôi như thắt lại khi nghĩ về mẹ cha mình, những đấng sinh thành không còn nữa để chứng kiến ngày đất nước ca khúc khải hoàn; nghĩ đến biết bao bạn bè, đồng chí, đồng đội đã vĩnh viễn ngã xuống để đất nước có ngày Nam Bắc sum họp một nhà, rồi những đồng đội đã từng chia nhau cọng rau rừng, ngụm cháo sắn, chia nhau ác liệt, hiểm nguy, chia nhau niềm vui, chia nhau cái chết… Giờ đây ai còn ai mất? Kể đến đây, người chỉ huy trận chiến năm xưa không còn vẻ hào hứng như lúc nói về những chiến công đơn vị mình lập được trong những ngày cuối của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử nữa. Tôi biết ông cố nén cảm xúc. Ông vỗ nhẹ vai tôi: “Chiến công của ông có là bao so với sự hy sinh mất mát của các đồng đội đã ngã xuống”. Và rồi tôi cũng đã trả lời được câu hỏi bấy lâu nay các nhà báo, phóng viên thắc mắc: “Tại sao Thượng tướng Nguyễn Văn Được không muốn nói về chiến công của ông trong quá trình chiến đấu cho giới báo chí mỗi khi họ đề cập đến?”./.Trần Anh Thư



