TẤM LÒNG MẸ THỨ!
Trong chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, hình ảnh người mẹ luôn gắn liền với những hy sinh thầm lặng nhưng vô cùng vĩ đại. Tỉnh Quảng Nam, mảnh đất trung dũng kiên cường trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, là nơi đã chứng kiến biết bao tấm gương xả thân vì độc lập, tự do. Nổi bật và trở thành biểu tượng bất tử của lòng vị tha, sự hy sinh vô bờ bến ấy chính là Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Thứ.
Mẹ Nguyễn Thị Thứ sinh năm 1904 tại làng Thanh Quýt, xã Điện Thắng, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Sinh ra và lớn lên trên mảnh đất nghèo khó nhưng giàu truyền thống yêu nước, từ nhỏ Mẹ đã chứng kiến cảnh quê hương bị giặc Pháp giày xéo, nhân dân phải sống trong cảnh nô lệ, lầm than. Những uất hận ấy ngấm sâu vào máu thịt, hun đúc nên trong Mẹ một tinh thần kiên cường và lòng yêu nước nồng nàn. Mẹ lập gia đình với ông Lê Tự Trị, một người nông dân hiền lành, giàu lòng nhân ái. Hai vợ chồng chắt chiu từng củ sắn, hạt gạo trên mảnh đất quê hương để nuôi lớn mười hai người con, gồm mười một con đẻ và một người con rể. Thời ấy, cuộc sống thiếu ăn thiếu mặc, gian khổ chồng chất gian khổ, nhưng vợ chồng Mẹ Thứ vẫn luôn dạy các con phải sống có đạo đức, biết yêu thương xóm giềng và đặc biệt là phải biết căm thù giặc xâm lược, giữ trọn lòng trung với nước.
Khi ngọn lửa cách mạng bùng cháy mạnh mẽ, ngôi nhà nhỏ của Mẹ Thứ ở làng Thanh Quýt đã trở thành một cơ sở kháng chiến bí mật. Dưới căn nhà tranh vách đất ấy, Mẹ đã đào nhiều hầm bí mật để nuôi giấu cán bộ, bộ đội và du kích địa phương. Ban ngày, Mẹ ra đồng làm lụng như một người nông dân bình thường để theo dõi tình hình giặc; ban đêm, Mẹ lại chong đèn may áo, tản củ sắn, nấu cơm tiếp tế cho cán bộ dưới hầm. Mẹ chính là người gác cổng trung thành và dũng cảm, bảo vệ an toàn cho biết bao cán bộ cách mạng trong những năm tháng đen tối và gian khổ nhất của lịch sử.
Đất nước có chiến tranh, nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, các con của Mẹ lần lượt trưởng thành và nối tiếp nhau lên đường nhập ngũ. Là một người mẹ, ai chẳng muốn con cái ở lại bên mình để vui vầy sum họp. Nhưng Mẹ Thứ hiểu rằng, nếu không có độc lập, tự do cho dân tộc thì làm sao có hạnh phúc riêng tư cho từng gia đình. Mỗi lần gạt nước mắt tiễn một người con bước ra chiến trường, Mẹ lại nắm chặt tay con dặn dò từng lời ruột thịt, rằng hãy đi chiến đấu giữ làng, giữ nước, khi nào thắng lợi hoàn toàn thì trở về với mẹ. Thế nhưng, sự khốc liệt của chiến tranh đã không cho những người con ấy cơ hội trở về. Những tin báo tử liên tiếp gửi về căn nhà nhỏ của Mẹ như những nhát dao cứa sâu vào khúc ruột gan.
Năm 1948, người con trai đầu lòng của Mẹ là Lê Tự Xuyên, một chiến sĩ du kích dũng cảm, đã hy sinh trong một trận chiến đấu oanh liệt với quân Pháp ngay trên quê hương Điện Bàn. Mẹ nuốt đắng cay, nén đau thương vào trong để tiếp tục nuôi dạy các con và phụng sự cách mạng. Đến năm 1954, khi Hiệp định Giơ-ne-vơ chuẩn bị được ký kết, hy vọng hòa bình vừa chớm nở thì Mẹ lại nhận tin người con thứ hai, Lê Tự Bốn, đã ngã xuống nơi chiến trường.
Bước sang giai đoạn kháng chiến chống Mỹ cứu nước, cuộc chiến trở nên vô cùng ác liệt. Lần lượt các con của Mẹ tiếp tục gieo mình vào khói lửa chiến tranh. Năm 1966, anh Lê Tự Hàn Quốc hy sinh. Chỉ một năm sau, năm 1967, Mẹ nhận liền hai tin báo tử của anh Lê Tự Cốt và anh Lê Tự Mười. Đến năm 1968, trong trận quyết chiến Mậu Thân, anh Lê Tự Tráo ngã xuống. Những năm tháng tiếp theo, niềm đau lại nối tiếp niềm đau khi anh Lê Tự Thịnh hy sinh năm 1972 và anh Lê Tự Tỏ hy sinh năm 1974. Không dừng lại ở đó, người con rể của Mẹ là anh Ngoạn, chồng của người con gái cả Lê Thị Trị, cùng người cháu ngoại là chị Võ Thị Xót cũng đã anh dũng hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Chỉ trong vòng mấy chục năm, Mẹ Thứ đã chín lần nhận tin báo tử của chín người con đẻ, cùng một người con rể và một người cháu ngoại hy sinh. Không có từ ngữ nào trên thế giới này có thể mô tả hết nỗi đau của một người mẹ chín lần tiễn con đi và chín lần ngóng chờ trong vô vọng. Người ta kể lại rằng, mỗi lần nhận được giấy báo tử, Mẹ Thứ lại lặng lẽ đi ra sau vườn, ngồi gục bên gốc cây nén tiếng khóc thầm vì sợ làm ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu của bộ đội đang ẩn nấp dưới hầm bí mật. Mẹ không gục ngã trước bom đạn và sự tàn khốc của kẻ thù. Nỗi đau mất con được Mẹ biến thành sức mạnh, tiếp tục đào thêm hầm, nuôi thêm quân, bảo vệ cán bộ cho đến ngày quê hương hoàn toàn giải phóng.
Ngày 30 tháng 4 năm 1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thu về một mối, Bắc Nam sum họp một nhà. Cả dân tộc vỡ òa trong niềm vui chiến thắng, cờ hoa đỏ rợp các nẻo đường từ nông thôn đến thành thị. Nhưng trong căn nhà nhỏ ở làng Thanh Quýt, Mẹ Thứ lặng lẽ ngồi bên mâm cơm chiều vắng vẻ. Mẹ chuẩn bị chín chiếc bát, chín đôi đũa xếp ngay ngắn trên bàn thờ. Ngày vui lớn của dân tộc cũng là ngày Mẹ khắc sâu nỗi nhớ thương vô hạn về những người con đã ngã xuống, không kịp nhìn thấy ánh sáng của hòa bình. Mẹ nhìn ra ngõ, ánh mắt mờ lụa vì khóc nhiều, như vẫn đợi chờ một tiếng gọi Mẹ ơi quen thuộc từ xa trở về.
Năm 1994, Mẹ Nguyễn Thị Thứ được Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý Bà mẹ Việt Nam Anh hùng. Mẹ trở thành biểu tượng sống của tình mẫu tử bao la, đại diện cho hàng triệu người mẹ Việt Nam đã hiến dâng những đứa con ruột thịt của mình cho sự sống còn của Tổ quốc. Những năm tháng cuối đời, Mẹ Thứ nhận được sự chăm sóc, phụng dưỡng chu đáo của Đảng, Nhà nước và nhân dân cả nước. Căn nhà của Mẹ luôn tràn ngập tình thương của các thế hệ trẻ, các đoàn khách trong và ngoài nước đến thăm hỏi, tri ân. Dù tuổi cao sức yếu, mỗi khi có khách đến thăm và hỏi về các con, Mẹ vẫn run run chỉ tay lên các tấm Bằng Tổ quốc ghi công treo kín trên tường nhà với một niềm tự hào sâu sắc.
Mẹ Nguyễn Thị Thứ trút hơi thở cuối cùng vào ngày 10 tháng 12 năm 2010 tại thành phố Đà Nẵng, thọ 106 tuổi. Mẹ ra đi trong sự tiếc thương vô hạn của nhân dân cả nước, về lại vòng tay của những người con anh hùng nơi cõi vĩnh hằng. Để tri ân Mẹ và hàng triệu Mẹ Việt Nam Anh hùng, Tượng đài Mẹ Việt Nam Anh hùng tại Quảng Nam đã được xây dựng dựa trên nguyên mẫu hình ảnh Mẹ Thứ. Công trình đêu khắc hoành tráng ấy khắc họa nét mặt nhân hậu, bao dung của Mẹ, như đang ôm trọn các thế hệ con cháu vào lòng. Tượng đài không chỉ là một tác phẩm nghệ thuật đồ sộ mà còn là cột mốc văn hóa lịch sử thiêng liêng, nhắc nhở các thế hệ hôm nay và mai sau về giá trị của hòa bình, độc lập được đổi bằng xương máu và sự hy sinh vô giá của Mẹ.



