TẬP KÍCH ĐẠI ĐỘI MỸ Ở DỐC LẾT
Đoạn văn kể về trận tập kích lính Mỹ tại Dốc Lết năm 1966 ở khu vực Hoài Ân. Đơn vị công binh thuộc Sư đoàn 3 Sao Vàng bất ngờ tiến công khi lính Mỹ vừa đổ bộ xuống, gây nhiều thiệt hại cho địch. Trong trận đánh, người kể chuyện bị lạc đơn vị nhưng sau đó vượt qua nguy hiểm, trở về gặp lại đồng đội. Trận chiến để lại kỷ niệm sâu sắc về tình đồng chí, đồng đội và tinh thần chiến đấu dũng cảm trên chiến trường.
Cái địa danh “Dốc Lết” không biết có tự bao giờ. Có lẽ do độ cao của dốc quá lớn mà ai đi qua đấy, cũng phải bò, phải lết chăng? Hay là do quá trình càn quét của địch dai dẳng, có những trung đội, đại đội địch không chịu rút đi mà thường di chuyển ngắn, lết đi, lết lại hòng ngăn chặn lực lượng ta từ trên núi xuống đồng bằng? Ở đây người ta thường gọi những lực lượng này là “Mỹ lết”. Nhưng địa danh “Dốc Lết” không hẳn nói về quân Mỹ, mà có thể nói về một kỷ niệm của chính những người đặt ra nó.
Dốc Lết thuộc khu vực đồi núi huyện Hoài Ân. Từ thung lũng An Lão ở phía Đông, nếu ta đi qua khu vực “32 đồi tranh” xuống đến Hội Văn, lội qua con suối đá rộng khoảng 50 mét, nước trong xanh, đi lên hướng Tây chừng một tiếng rưỡi đồng hồ thì sẽ đến Dốc Lết. Đây là con đường mòn, nhân dân địa phương thường đi qua để khai thác song, mây, gỗ. Các đơn vị bộ đội cũng thường hành quân cơ động lực lượng qua đây để về các căn cứ trên dốc Bà Bơi, Kim Sơn, Nghĩa Điền là những xã thuộc miền núi, rồi tỏa đi các nơi khác.
Đồi núi ở đây, phần lớn thuộc rừng tái sinh xen kẽ những đồi sim và các trảng trống, rất thuận tiện cho việc giấu quân, cơ động lực lượng để tiếp cận địch; nhất là buổi chiều tối và tờ mờ sáng.
Vào một buổi chiều mùa khô năm 1966, khi tổ trinh sát chúng tôi dẫn đoàn cán bộ của Sư đoàn 3 đi khảo sát địa hình, nơi đây vẫn còn yên tĩnh. Vài tiếng đồng hồ sau, bỗng nhiên hàng đàn máy bay trực thăng ồ ạt đổ một đại đội bộ binh Mỹ thuộc Sư đoàn không vận số 1 xuống một trảng trống phía Đông Nam Dốc Lết khoảng 500 mét. Theo sau các tốp trực thăng đổ quân là máy bay CH47 (chúng tôi thường gọi là Sâu Cà, vì nó giống như con sâu cà) thả xuống những loại súng hỏa lực và đồ hộp, thức ăn hàng ngày của lính Mỹ.
Mùa khô, trời nóng nực. Sáu giờ chiều mà trời vẫn sáng rõ, khí nóng bốc lên hầm hập. Bọn địch bắt đầu co cụm lại, trên khoảng đất trống. Trên trời không ngớt tiếng máy bay trực thăng, máy bay phản lực. Cạnh bãi đất trống về phía Tây là rừng cây lúp xúp, tiếp đến là rừng già, giáp với con đường đi xuống Dốc Lết, về thôn Hội Văn, Hội Phú. Phía dưới, hướng Đông Nam là những thửa ruộng đã bỏ hoang từ lâu.
Đại đội công binh được giao nhiệm vụ tổ chức tập kích và tiêu diệt bọn địch ngay trong đêm, khi chúng vừa đổ quân xuống. Đây là thời cơ thuận lợi, chúng đang tập trung, chân ướt chân ráo chưa có công sự, đội hình chưa kịp phân tán. Thời kỳ đầu, lính Mỹ mới sang Việt Nam, chỉ quen dựa vào máy bay, pháo binh, xe tăng và tác chiến theo lối chính quy; lại không thông thuộc địa hình, không quen với khí hậu thời tiết, chưa hiểu được cách đánh của ta. Qua thực tế được rút ra từ các trận đánh của các đơn vị, tạm thời ta có kết luận là trình độ tác chiến của lính bộ binh Mỹ trên chiến trường khu 5 kém xa so với bộ đội ta. Tuy nhiên, càng về sau, chúng càng tích lũy được kinh nghiệm và trở nên lọc lõi, ranh mãnh.
Là tổ trưởng tổ trinh sát, tôi dẫn theo hai đồng chí đi trước đội hình, phía sau là hai trung đội, hình thành hai mũi, gần như song song với nhau tiếp cận mục tiêu. Bộ đội lúc này đã ở sâu trong đội hình địch. Lợi dụng tối đa địa hình đồi núi và đêm tối, chúng tôi mặc quần đùi, bôi nhọ nồi lên người, cầm thủ pháo, lựu đạn, mỗi tổ chỉ sử dụng vài khẩu súng AK, nên rất gọn, nhẹ. Chúng tôi im lặng, mò mẫm trong đêm tối, theo hai bên trục đường mà lúc chiều đoàn cán bộ của Sư đoàn 3 vừa đi qua.
Mệt mỏi với cái nắng nóng của mùa khô khắc nghiệt ở miền Trung, lại vừa đổ bộ bằng trực thăng xuống một khu vực hoang vắng, bọn lính Mỹ nằm lăn ra ngủ như những đống xác chết.
22 giờ, trong khi đang lần từng bước, tổ trinh sát chúng tôi dẫm đạp lên mấy tên Mỹ đang ngủ say. Tôi giật lùi một bước, đánh tín hiệu về phía sau cho đồng đội. Hai trung đội nhanh chóng triển khai đội hình và đồng loạt tiến công. Trên khu đất trống chỉ nghe tiếng thủ pháo, lựu đạn nổ, và từng loạt súng tiểu liên. Bọn địch rối loạn, không phát hiện được quân ta ở chỗ nào. Bị tiến công bất ngờ ngay trong đội hình, địch không phản ứng kịp. Trận địa cối của chúng ở phía Nam bãi đất trống bắn lên khu rừng già, trên đường đi về Dốc Lết.
Sau ít phút chiến đấu, máy bay trực thăng lên quần đảo, rọi đèn pha, các trận địa cối 81 mm cũng bắn đèn lên, chói sáng cả một vùng.
Trên trận địa, thủ pháo, lựu đạn, súng AK vẫn tiếp tục nổ vang. Tổ trinh sát chúng tôi vẫn theo sát đội hình các trung đội, tiến sâu vào trong đội hình địch. Bộ đội tỏa ra trên các hướng, từng tổ, từng tổ, vừa nổ súng, vừa ném lựu đạn và lùi dần vào cánh rừng phía Đông.
Sau hơn hai mươi phút chiến đấu, đơn vị thu quân rút về căn cứ Hội Văn, cách đó khoảng hai giờ đi bộ.
Riêng tôi, khi tiến sâu vào đội hình địch, xung quanh súng nổ loạn xạ, bị mất phương hướng không tìm được lối ra, cũng không liên lạc được với đồng đội. Tôi nép mình vào một bờ ruộng. Phía sau bờ ruộng mấy mét, lính Mỹ đào công sự, hất đất cả lên đầu tôi. Theo bờ ruộng và cây cỏ lúp xúp, tôi bò ra xa. Trong khoảnh khắc im tiếng súng, nhưng tiếng máy bay vẫn gầm rít trên trời, lợi dụng ánh đèn dù của địch, tôi quan sát thật nhanh xung quanh. Khi ánh đèn vừa tắt, tôi “nhảy cóc” di chuyển từ bụi cây này sang bụi cây khác, theo hướng dãy rừng già trước mặt khoảng 200 mét, là nơi lui quân của đơn vị.
Bỗng một tên Mỹ, không mang súng, cao lêu khêu, ở đâu xuất hiện, tiến thẳng đến bụi cây tôi đang ngồi. Dưới ánh đèn dù lờ mờ, tôi thấy rõ thằng Mỹ. Khi nó chỉ còn cách tôi khoảng 5 mét, không chần chừ, tôi giương khẩu súng CKC, bóp cò. Thằng Mỹ đổ vật xuống kêu rống lên...
Đèn vừa tắt, tôi nhanh chóng nhảy sang một bụi cây khác. Một tốp lính khoảng 5 - 6 tên, từ những vạt ruộng khô ở phía Nam, rập rập chạy tới, khiêng tên bị thương. Bên lưng tôi còn một trái lựu đạn chày1 duy nhất, chớp thời cơ, tôi tung luôn vào tốp địch. Sau tiếng nổ đanh là những giây phút im lặng. Rồi tiếng pháo, cối, tiếng động cơ ầm ầm của máy bay trực thăng làm rung chuyển cả một vùng rừng núi. Lợi dụng đèn pháo sáng của địch và địa hình đồi núi, với kinh nghiệm của người lính trinh sát, cuối cùng tôi cũng thoát ra khỏi khu chiến, về đến vị trí tập kết tối qua.
Trước mỗi trận đánh, bộ đội được tập trung tại một địa điểm kín đáo, có địa hình che đỡ và che khuất (thường được gọi là địa điểm tập kết), để lại tất cả quần áo, tư trang, kiểm tra các trang bị trước lúc xuất phát đến vị trí chiếm lĩnh, và cử người ở lại trông coi. Sau trận đánh, các hướng các mũi rút về.đây, kiểm tra lại quân số, vũ khí, rồi theo những con đường đã được chuẩn bị để rút về căn cứ.
Khi tôi ra đến đây thì đại đội đã lui quân, không để lại dấu vết gì. Có thể anh em cho rằng tôi đã bị mất tích, hoặc đi lạc. Tôi lần theo đường mòn để về nơi trú quân ở Hội Văn. Tụt xuống dốc Lết đã là 7-8 giờ sáng. Mệt quá tôi chui vào một cái hầm ếch của du kích địa phương, hoặc của dân làm ruộng, để tránh pháo địch. Phía trên hầm ếch là sườn đồi, người ta bạt taluy để làm đường, tạo thành vách đứng cao khoảng gần 2m. Trước mắt là những thửa ruộng đã bị bỏ hoang. Cơn buồn ngủ ập đến, không sao cưỡng nổi, tôi ngủ thiếp đi một lúc. Tiếng pháo, cối nổ trên sườn đồi, tiếng máy bay phản lực xé không khí, nhào xuống trút bom, tiếng máy bay, trực thăng phóng rocket... làm tôi tỉnh giấc. Vừa mở mắt nhìn ra trên những khoảng ruộng trước mắt, trong cự ly từ 30-50 m, lính Mỹ dàn hàng ngang, tiến vào nơi tôi đang ẩn nấp...
Không còn đủ thời gian để sợ sệt và suy tính, với sự phản xạ tự nhiên, lợi dụng lúc mấy tên Mỹ chính diện trước mặt đang ngoái cổ nhìn về phía sau, nói với nhau điều gì đó, tôi quàng vội khẩu súng CKC lên cổ, đu người trườn lên dốc. Ở phía Nam sườn đồi khoảng 100 m, máy bay trực thăng phóng rocket và ném lựu đạn xuống một ngôi nhà tranh ẩn mình dưới những rặng tre. Ngôi nhà bốc cháy dữ dội, nổ lốp bốp. Lợi dụng những đám khói đang cuồn cuộn bốc lên, che khuất, tôi đứng thẳng người vùng chạy, chạy mãi trong những vườn cây lúp xúp ven sườn đồi về hướng thôn Hội Văn, nơi đóng quân của đại đội. Bình thường, nếu đi trong địa hình như thế, dễ đạp phải gai hoặc dây leo quấn vào chân. Nhưng sao hôm đó, tôi vượt tất cả mọi chướng ngại vật trên sườn đồi và còn lội qua con suối rộng khoảng 30 m, đá lởm chởm mà không hề sứt da, chảy máu hoặc té ngã... quả là như có một phép lạ. Nếu hôm đó, ngoại cảnh không làm tôi tỉnh giấc thì rất có thể đã bị lính Mỹ bắn chết hoặc bắt sống trong lúc tôi đang ngủ trong cái hầm ếch đó. Khi đến được Hội Văn thì căn cứ đã bị địch càn quét, đốt phá tan hoang, và đơn vị cũng đã di chuyển. Mới rời xa đồng đội có một đêm và một buổi sáng, tôi cảm thấy cô đơn vô cùng. Tôi tin là đơn vị đã kịp di chuyển trước khi địch càn vào đây. Trong chiến đấu đã tạo cho con người kinh nghiệm hơn, nhạy bén hơn. Quả đúng như vậy, đại đội đã rút về khu vực “32 đồi tranh” và sau đó về huyện An Lão. Tôi lại lần theo đường mòn đi suốt ngày hôm đó. Vừa đói, vừa mệt, vừa khát. Tối đến tôi chui vào bụi rậm ven đường ngủ, hy vọng ban đêm đơn vị sẽ hành quân qua đây. Tờ mờ sáng, tôi nhìn lên khu vực “32 đồi tranh”, thấy máy bay trực thăng hạ cánh. Bọn lính Mỹ khuân vác hàng từ trên máy bay xuống. Một số đi đi lại lại, trên các điểm cao. Chúng đã đổ quân xuống khu vực này, hòng chặn đường rút của ta về thung lũng An Lão. Tôi vẫn men theo đường mòn về hướng đó, vì nghĩ rằng: địch vừa đổ quân sáng nay, chưa triển khai lùng sục trên các đường mòn. Đúng lúc đó, tôi gặp được đồng đội, do đồng chí tiểu đội trưởng Võ Tùng dẫn đầu, cũng đang đi tìm tôi đã hai ngày nay... Chúng tôi ôm chầm lấy nhau, cảm động, không nói nên lời, nước mắt lăn trên gò má sạm đen... Đây là một trong những kỷ niệm sâu sắc của đời lính chúng tôi về tình đồng chí, đồng đội trên chiến trường. Sau trận này, tôi được tặng danh hiệu “Dũng sĩ diệt Mỹ”.
Trận tập kích đại đội lính Mỹ ở Dốc Lết, theo tin tức của “đài kỹ thuật”, Sư đoàn thông báo, ta đã tiêu diệt và làm bị thương gần 100 tên địch.
Mấy ngày sau, chúng tôi về lại thung lũng An Lão, đóng quân tại Châu Sơn - một làng sát chân núi. Từ khi Sư đoàn không vận số 1 Mỹ đổ quân xuống vùng này, nhân dân ở đây bị chúng dồn vào các ấp chiến lược ở thị trấn Bồng Sơn. Nhà cửa, ruộng vườn không có người trông coi. Tại đây có những hang đá lớn, chứa được cả tiểu đoàn, tránh được cả bom, pháo Mỹ. Trên các nương rẫy, nhân dân trồng các loại cây ăn trái như: chuối, đu đủ, xoài, mít, cam, quýt... Ở đây còn có rừng chuối bạt ngàn, đi cả ngày không hết. Từ bìa rừng ra đến bờ sông An Lão là làng mạc. Trước đây thung lũng An Lão là một miền quê trù phú. Dọc theo hai bên bờ sông là những vườn dâu xanh tốt. Trên các bãi phù sa, nhân dân trồng hoa màu như bắp, đậu phộng (lạc) và những đồng lúa phì nhiêu, những vườn dừa trĩu quả, chạy từ Xuân Phong - Bình Hòa, Thánh Giá (phía đông sông) sang tận Châu Sơn, Tân Sơn, Vạn Tín, Vạn Trung (phía tây sông). Dưới sông thuyền bè lên xuống tấp nập; hai bên đường, phố xá đông vui.
Thế mà, bây giờ làng xóm tiêu điều, xơ xác. Đồng ruộng, vườn tược chỉ còn một màu vàng úa, khô héo. Sông An Lão, mùa này nước cạn, nhô lên những cồn cát. Những đám ruộng lúa chín non, vì chất độc hóa học của Mỹ đã khô héo; những vườn đậu phụng rụng lá, trơ gốc không người thu hoạch. Ban đêm, bộ đội xuống núi, vừa để nắm tình hình địch, tổ chức những trận tập kích, vừa thu hoạch lúa và hoa màu để có nguồn dự trữ cho cuộc chiến đấu ở nơi đây. Khi cần, có thể chi viện cho Sư đoàn trên căn cứ đang gặp khó khăn về lương thực. Bộ Tư lệnh và cơ quan Sư đoàn đóng ở dốc Bà Bơi, thường xuyên bị máy bay B52 oanh tạc. Phải ra tận tỉnh Quảng Ngãi mới nhận được lương thực. Nhưng thời gian đi về phải mất 10 - 15 ngày.
Lương thực thu hoạch xong, được vận chuyển lên núi. Một số dân không chịu vào các ấp chiến lược, lên đây sống cùng bộ đội tổ chức xay lúa, giã gạo, chế biến dầu dừa, dầu lạc... làm các kho dã chiến để dự trữ, phục vụ cho cuộc chiến đấu lâu dài, gian khổ ở nơi đây.
Cuộc sống cứ trôi đi theo ngày tháng. Ban ngày địch đánh phá ác liệt. Máy bay trực thăng bốc quân đổ xuống nơi này, nơi khác, nhằm “tìm diệt” lực lượng ta. Máy bay B52, máy bay phản lực ném bom, đánh phá tất cả những nơi chúng nghi ngờ có căn cứ của bộ đội chủ lực. Máy bay vận tải rải chất độc hóa học xuống làng mạc, ruộng đồng, nhằm hủy diệt sự sống của mọi loại động vật, cây cỏ... Ở đồng bằng, chính quyền Sài Gòn ráo riết thực hiện kế hoạch bình định nông thôn, tạo nên những vành đai trắng. Nhưng, khi màn đêm buông xuống, sự sống ở đây lại trỗi dậy, sôi động. Bộ đội từ các căn cứ, hang động lại tỏa ra trên các hướng. Bộ phận này đi tìm địch để tập kích, lực lượng kia ra đồng để thu hoạch hoa màu; lại có cả những đơn vị vượt sông An Lão, lên Xuân Phong, xuống Phước Bình, Thánh Giá1… Vì vậy có thơ rằng:
Khách đến Tân Sơn, gọi đò Vạn Tín,
Cô gái Vạn Trung bồi hồi xao xuyến,
Nẩu 2 về đâu không ghé bến ghe mình!
Những đêm trăng sáng vằng vặc, gió từ bờ sông thổi vào mát rượi. Xong công việc, chúng tôi nằm giữa cánh đồng khô ngắm trăng, thì thầm tâm sự với nhau; mọi chuyện trên đời đều bung ra, kể cho nhau nghe hết. Pháo địch cứ bắn vu vơ, cầm canh vào bìa rừng. Tờ mờ sáng, chúng tôi lại lên núi.
Ngoài số lương thực của dân để lại trên cánh đồng, làng mạc, chúng tôi còn có nguồn “cung cấp” khác cũng đã được tận dụng để bồi dưỡng lực lượng ta. Đó là thực phẩm thu được của địch.
Trên chiến trường Khu 5, tại các vùng giáp ranh, miền núi, khi đổ quân xuống, Sư đoàn Không vận số 1 Mỹ thường đổ luôn xuống các loại đồ ăn, thức uống cho binh lính trong một ngày, có khi cả một tuần lễ. Tại nơi đóng quân của Mỹ ngoài súng đạn, còn có các loại nhu yếu phẩm và thực phẩm như bánh mỳ, đồ hộp, đường, sữa, thuốc lá, v.v... chất hàng đống. Không quen với khí hậu thời tiết mùa khô, binh lính Mỹ không sử dụng hết, hoặc sử dụng rất ít. Khi rút đi, chúng để lại gần như nguyên vẹn số nhu yếu phẩm trên những bãi đổ quân. Bộ đội ta thu về, làm kho bảo quản để sử dụng dần. Vì vậy, trong các bữa ăn hàng ngày của nhiều đơn vị ở đây đã có thịt hộp, cá hộp, đường sữa cho thương bệnh binh. Sau bữa ăn còn được uống cà phê Mỹ, hút thuốc lá Salem, Palman, Camen và nhiều thứ mới lạ khác.
Về sau, có thể do bọn Việt gian đi theo “bày đặt”, “mách nước”, nên trước khi rút quân, bình lính Mỹ chọc thủng các loại đồ hộp, vi khuẩn xâm nhập vào, không dùng được. Còn các nhu yếu phẩm khác, chúng chất thành đống, tưới xăng, đốt.
Về nguồn lương thực, thực phẩm trên cấp, chúng tôi tổ chức nhận ở các địa phương. Mỗi đơn vị có một bộ phận hậu cần, túc trực tại các cửa khẩu. Ban đêm, xuống đồng bằng bám vào trong các ấp chiến lược mua lương thực, thực phẩm. Được nhân dân giúp đỡ, cơ quan “kinh tài” 3 địa phương cũng thu mua được nhiều lương thực cung cấp cho các đơn vị theo yêu cầu. Nhiều khi còn thua được một số trang bị của quân đội địch do gia đình và binh lính tuồn ra ngoài bán, như quân trang, quân dụng, thuốc quân y hay thuốc lá “Quân tiếp vụ”... Nhiều đồng chí cán bộ địa phương bị hy sinh, hoặc bị bắt trong khi luồn lách đưa bộ đội đi thu mua lương thực trong vùng địch hậu. Nhiều đồng chí thoát ly gia đình lên núi bám vào các cửa khẩu, ngày đêm lo “chạy” gạo, “chạy” thực phẩm cấp cho bộ đội, như ở cửa khẩu Dốc Dài xuống xã Mỹ Hiệp huyện Phù Mỹ; cửa khẩu Hưng Nhượng xuống Hoài Nhơn, cửa khẩu ở Nam đường 19 xuống xã Bình Nghi, Bình Tường huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định. Ở tỉnh Quảng Ngãi có cửa khẩu Sa Lung xuống Đức Phổ qua Đèo Ải xã Phổ Cường, hay cửa khẩu Cảng Sa Huỳnh, v.v...
Sự liên hệ máu thịt giữa nhân dân vùng địch tạm chiếm với các đơn vị chủ lực ta ở đâu cũng có. Âm mưu chiến lược của kẻ thù dồn dân, lập ấp để “tát nước, bắt cá” không bao giờ thực hiện được. Mối tình “cá nước” quân dân đã có từ bao đời nay, không kẻ thù nào có thể chia cắt được. Trên một chiến trường gian khổ, ác liệt, sư đoàn Sao Vàng đã tạo được chỗ đứng trong lòng dân, xen kẽ với địch ở vùng đồng bằng thuộc hai tỉnh Bình Định và Quảng Ngãi trong những năm đánh Mỹ, là một trong những nguyên nhân thắng lợi của quân đội ta nói chung, của bộ đội sư đoàn Sao Vàng thuộc Quân khu 5 nói riêng.
Tuy nhiên, để đưa được một kg gạo, một hộp sữa, một cân đường, một gói thuốc... từ đồng bằng lên căn cứ là cả một vấn đề, không dễ dàng chút nào.
Thực túc, binh cường, non lương, yếu gối.
Có thời kỳ do địch tập trung đánh phá ác liệt, lực lượng ta không cân sức, bộ đội gặp rất nhiều khó khăn về lương thực, bị đánh bật khỏi vùng đồng bằng, không làm chủ được địa bàn, không nắm được dân; nhiều trận chiến đấu, nhiều chiến dịch mở ra, hiệu suất chiến đấu bị hạn chế hoặc không thực hiện được. Bộ Tư lệnh sư đoàn đã phải hạ quyết tâm, đưa nhiều tiểu đoàn xuống vùng sâu, vùng xa, bám dân, phối hợp cùng lực lượng vũ trang địa phương để hoạt động.
Từ ngày vào miền Nam, tôi cũng như bao anh em khác, chiến đấu liên tục. Hàng ngày chỉ tập trung lo làm sao để diệt được nhiều địch, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ trên giao. Ngoài ra, không có một suy nghĩ nào khác. Vào một ngày đầu năm I966, đồng chí chính trị viên đại đội, gọi tôi lên, gặp và nói: “Đồng chí làm đơn để chi bộ xét kết nạp Đảng!”. Có lẽ, tổ chức đã quan tâm, theo dõi tôi từ lâu, mà tôi không biết. Đồng chí Võ Tùng, tiểu đội trưởng cũng được làm đơn xin kết nạp Đảng cùng lúc với tôi.
Ngày 17-01-1966, tôi và đồng chí Tùng được kết nạp vào Đảng - Đồng chí Trần Hữu Biền, chính trị viên, bí thư chi bộ là người giới thiệu thứ nhất, đồng chí Phan Xuân Đực, quản lý của đại đội là người giới thiệu thứ hai cho tôi. Ngày đó, điều lệ Đảng quy định: thời gian dự bị đối với những đồng chí có thành phần bần nông là 9 tháng và 12 tháng đối với những đồng chí có thành phần trung nông. Tôi thuộc diện dự bị 12 tháng. Ngày 17-01-1967 tôi chính thức trở thành đảng viên Đảng Cộng Sản Việt Nam. Đây là một vinh dự lớn, một sự thay đổi quan trọng trong cuộc đời tôi. Từ đây, tôi sẽ có điều kiện phấn đấu nhiều hơn, đảm nhiệm những trọng trách lớn hơn trong sự nghiệp cách mạng của Đảng.
Cuối năm 1967 và cả năm 1968, Trung đoàn bộ binh 12 vẫn tiếp tục hoạt động ở địa bàn tỉnh Bình Định. Đại bộ phận lực lượng của Sư đoàn Bộ binh 3, theo lệnh của Quân khu, cơ động ra Quảng Ngãi, phối hợp với Sư đoàn 2, mở đợt hoạt động quân sự gọi là chiến dịch X2, do Quân khu 5 tổ chức. Đây là đợt phối hợp hoạt động trong chiến dịch Mậu Thân năm 1968. Trong chiến dịch này, nhiều đơn vị chủ lực của ta cùng với lực lượng vũ trang địa phương đã tiến công mãnh liệt trên toàn chiến trường. Có nơi ta đã làm chủ một số thị trấn, thị xã và những vùng chủ yếu. Một số đơn vị thuộc sư đoàn 3 hoạt động ở địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, mang tính chất phối hợp, nhằm căng kéo các lực lượng địch ở đây tạo điều kiện cho các đơn vị giải quyết những mục tiêu then chốt của địch. Đối tượng tác chiến là Sư đoàn American Mỹ, Sư đoàn “Thanh Long” Đại Hàn và Sư đoàn Bộ binh 2 quân đội Sài Gòn tại các vùng thuộc huyện Tư Nghĩa, Nghĩa Hành, Mộ Đức, Đức Phổ, Bình Sơn, Sơn Tịnh và huyện lỵ Sơn Hà...
Tại mặt trận Nam Bình Định, trung đoàn bộ binh 12 một mình một hướng, hoạt động trên hai huyện Phú Mỹ và Phù Cát. Đối tượng tác chiến, ngoài lực lượng sư đoàn 22 quân đội Sài Gòn, có sư đoàn “Mãnh Hổ” Nam Triều Tiên, đồng minh của Mỹ. Nắm được phần lớn sư đoàn 3 ra Quảng Ngãi, sư đoàn “Mãnh Hổ” dưới sự yểm trợ của không quân, pháo binh Mỹ, mở cuộc hành quân quy mô vào núi Bà thuộc huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định, nơi sở chỉ huy và một số lực lượng thuộc trung đoàn bộ binh 12 đang đứng chân và hoạt động tại đó. Trong điều kiện bất lợi về nhiều mặt, cuộc chiếu đấu trong vòng vây của quân thù diễn ra rất ác liệt. Trung đoàn 12 đã phải chịu tổn thất nặng nề tại khu vực núi Bà. Song cũng vì thế mà phần lớn lực lượng cơ động của sư đoàn “Mãnh Hổ” bị thu hút vào đấy, tạo thuận lợi cho các đơn vị của ta tiêu diệt nhiều địch ở phía Tây huyện Phù Mỹ1.
Lực lượng công binh Sư đoàn Bộ binh 3, lúc này tổ chức thành Tiểu đoàn công binh, lấy phiên hiệu là Tiểu đoàn số 19. Đồng chí Trần Văn Hồng là tiểu đoàn trưởng, đồng chí Trần Hữu Biền, là chính trị viên và đồng chí Nguyễn Hữu Quang, tiểu đoàn phó. Đại đội Một, tiếp tục hoạt động ở tỉnh Bình Định suốt mùa khô năm 1967.
Đại đội Hai, cơ động cùng đội hình Sư đoàn 3 ra hoạt động trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi. Lúc này đồng chí Tôn Mười làm đại đội trưởng, đồng chí Nguyễn Minh Tiến chính trị viên.
Tại địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, có thể nói, không có một huyện nào không có dấu chân của chúng tôi để lại. Tại các huyện miền núi, chúng tôi tham gia các trận chiến đấu ở Ba Tơ, Gia Vụt; trận tập kích chi khu quân sự Minh Long; ở các huyện giáp ranh và đồng bằng như: Tư Nghĩa, Nghĩa Hành, Bình Sơn, Sơn Tịnh, phía Bắc giáp với tỉnh Quảng Nam, chúng tôi tập kích mục tiêu Cống Đôi, thuộc xã Bình Nguyên, gần căn cứ Chu Lai, tỉnh Quảng Nam. Phía Nam, giáp với xã Tam Quan thuộc huyện Hoài Nhơn tỉnh Bình Định, có trận phục kích trên đường giao thông số 1, tiêu diệt đoàn xe cơ giới của địch tại đèo Phổ Trang, phía Bắc Sa Huỳnh, thuộc huyện Đức Phổ tỉnh Quảng Ngãi.
Bước sang năm 1968 - chiến dịch Mậu Thân, trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, với cương vị là trung đội bậc trưởng, rồi đại đội bậc phó (thời kỳ này quân giải phóng chưa có quân hàm, chỉ có cấp bậc, mà chỉ được gọi là đại đội bậc trưởng, tiểu đoàn bậc phó,v.v… ), tôi đã tham gia chỉ huy nhiều trận đánh xuất sắc, cấp phân đội, như: Trận đánh sập cầu ở Châu Ổ đêm 22 rạng 23-2-1968, trận tập kích cụm xe tăng Mỹ ở Dốc Sỏi trên đường từ thị trấn Châu Ổ lên huyện Trà Bồng đêm 25-2, bắn cháy 7 xe tăng và xe bọc thép của địch; trận đánh địch càn quét vào thôn Trà Bình, bắn cháy xe tăng, bắt sống một tên chỉ huy Mỹ thuộc Sư đoàn American và một số trận đánh khác mà tôi xin được đề cập ở những trang sau.
Đại đội hai chúng tôi là một đơn vị công binh, nhiệm vụ chính được xác định lúc đầu như đã nói ở trên là xây dựng và sửa chữa hầm hào, thi công công trình Sở chỉ huy cho Bộ tư lệnh và Cơ quan Sư đoàn. Khi tác chiến yêu cầu thì được giao nhiệm vụ làm đường cho xe, pháo cơ động vào triển khai chiến đấu, mở đường qua bãi vật cản cho bộ binh bước vào chiến đấu bên trong đồn bót địch; hoặc bố trí mìn tiêu diệt xe cơ giới, đánh quân địch đổ bộ đường không, v.v... Cuộc chiến đấu trên chiến trường đòi hỏi lực lượng ta phải càng đánh, càng mạnh, càng phải trưởng thành nhiều mặt. Vì vậy, tuy là một đơn vị binh chủng, mang tính phục vụ chiến đấu, nhưng nhiều lúc, đã làm được mọi nhiệm vụ như một đơn vị bộ binh, hoặc chiến đấu theo kiểu của đặc công. Chúng tôi thường được giao nhiệm vụ chiến đấu độc lập, nhưng khi chiến dịch được mở, hay trong những đợt hoạt động tập trung, đại đội tôi luôn chấp hành nghiêm theo mệnh lệnh hiệp đồng tác chiến.


