Tây Nguyên 1965 - 1966: Xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân toàn diện
Đoạn trích khẳng định mối quan hệ hữu cơ giữa bộ đội chủ lực và chiến tranh du kích nhằm tạo nên sức mạnh tổng hợp trên chiến trường Tây Nguyên. Tác giả chi tiết hóa sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng địa phương tại ba tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc và mạng lưới hậu cần thiết yếu từ đường giao thông, xưởng quân giới X53 đến hệ thống quân y. Điểm nhấn quan trọng là sự ra đời của Bệnh viện 211 với đội ngũ bác sĩ tinh hoa từ miền Bắc, minh chứng cho sự chuẩn bị chu đáo, bài bản về cả nhân lực và v
tác chiến của các binh đoàn chủ lực có phát triển mạnh mẽ và vững chắc là phải dựa vào sự phát triển của chiến tranh du kích. Ngược lại chiến tranh phát triển đến mức đó nào đó mà không có tác chiến của các binh đoàn chủ lực hỗ trợ thí cùng khó phát triển. Đây là mối quan hệ hữu cơ giữa hai lực lượng để tạo nên thế trận chiến tranh nhân dân hùng mạnh vững chắc. Để vận dụng được quy luật đẩy mạnh chiến tranh du kích phát triển cùng với chiến tranh chính quy phù hợp đặc điểm chiến trường Tây Nguyên, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận xác định phải xây dựng hai khối chủ lực: khối chủ lực cơ động và khối chủ lực tại chỗ Hai khối chủ lực này sẽ cùng với lực lượng vũ trang địa phương tiến hành và đẩy mạnh chiến tranh nhân dân.
Thời gian này, lực lượng địa phương ba tỉnh đã phát triển khá mạnh. Ở Kon Tum có 1 tiểu đoàn và 6 đại đội bộ binh, 1 đại đội đặc công, 1 đại đội pháo cối. Ở Gia Lai có 1 tiểu đoàn, 2 đại đội và 11 trung đội bộ binh, 1 đại đội đặc công, 1 đại đội pháo cối. ở Đắc Lắc có 1 tiểu đoàn và 4 đại đội bộ binh, 1 đại đội đặc công, 1 đại đội pháo cối. Lực lượng này đã hình thành khá cân đối giữa bộ binh với đặc công và pháo binh, giữa tỉnh và huyện, về lực lượng du kích, Tỉnh ủy Gia Lai có nghị quyết: Đảng viên, đoàn viên phải gương mẫu trong việc xây dựng lực lượng vũ trang. Hai phần ba số đảng viên và 100% số đoàn viên phải vào du kích. Do vậy toàn tỉnh Gia Lai có 8.541 du kích, trong đó có 887 nữ, tỷ lệ 6,9% số dân vùng giải phóng. Đảng viên chiếm 7,2%. Có huyện như huyện 5 (Chư Pông) đạt 16% số dân tham gia du kích, về trang bị trung bình 9 du kích có 1 súng, số còn lại trang bị vũ khí thô sơ.
Ở Kon Tum, tỉnh cũng đặt vấn đề xây dựng du kích phải đạt 3 tính chất: quần chúng, giai cấp và quân sự. Tổng số du kích toàn tỉnh là 4.736 người, chiếm 14% dân số vùng giải phóng. Du kích nữ chiếm 25%. Cứ 12 du kích có 1 đảng viên, 3 du kích trang bị 1 súng.
Ở Đắc Lắc, tổng số du kích là 2.740 người, đạt tỷ lệ 9% dân số vùng giải phóng. Du kích nữ chiếm 30%.
Như vậy, lực lượng dân quân du kích xã, thôn lên tới 16 nghìn người, số đông đã qua chiến đấu. Những vành đai diệt Mỹ bắt đầu hình thành quanh các căn cứ địch.
Cũng vào cuối năm 1965, Tây Nguyên thành lập binh trạm Nam và binh trạm Bắc, xây dựng căn cứ hậu cần khu vực. Lực lượng công binh, vận tải và các đơn vị làm nhiệm vụ ở tuyến sau được huy động, gấp rút mở thêm đường ô tô 128 từ Tà Xẻng vào nam đường 19 và các đường hành lang chạy xuống phía đông. Đường hành lang C01 đi xuống căn cứ Khu 5. Đường hành lang C09 từ miền tây Gia Lai tiếp tế cho lực lượng hoạt động ở phía đông bắc Plây Cu. Đường hành lang C06, C010 chuyển hàng chi viện cho căn cứ kháng chiến tỉnh Bình Định, Phú Yên. Với sự hình thành căn cứ hậu cần khu vực cánh Nam, cánh Trung, cánh Bắc và hệ thống đường hành lang Bắc - Nam, Đông - Tây, các xã huyện vùng giải phóng ba tỉnh Tây Nguyên được nối liền thành căn cứ hậu phương tại chỗ, bảo đảm chỗ đứng chân xây dựng và tác chiến của lực lượng vũ trang nhân dân.
Đầu năm 1966, xưởng quân giới Tây Nguyên ra đời. Từ một xưởng sửa chữa lúc đầu trang bị còn thô sơ, được miền Bắc chi viện thiết bị, các chiến sĩ quân giới đã xây dựng thành xưởng sản xuất quân giới mang mật danh X53.
Thời gian này, tổ chức quân y Tây Nguyên được bổ sung củng cố hoàn chỉnh từ cơ quan chỉ đạo đến các hệ thống điều trị, vệ sinh phòng dịch, sản xuất thuốc chữa bệnh, huấn luyện cán bộ chuyên môn. Hệ thông điều trị hình thành từng khu vực, phía trước có quân y các đơn vị, các đội phẫu thuật cơ động và trạm xá, phía sau có các bệnh viện. Viện 1 ở cánh Bắc, Viện 2 ở cánh Nam. Ngày 22 tháng 3 năm 1966, tôi làm việc với anh Vũ Văn Cẩn, Cục trưởng Cục quân y vừa từ miền Bắc vào, được anh cẩn thông báo: Tổng cục Hậu cần, Cục Quân y đã cử một khung bệnh viện gồm các bác sĩ được lựa chọn từ hai viện tuyến cuối của quân đội do anh Võ Văn Vinh(1), Cục phó Cục Quân y trực tiếp làm viện trưởng, anh Khuất Duy Kính làm chính ủy, anh Lê Cao Đài, Viện phó phụ trách ngoại, anh Trần Nam Hưng làm viện phó phụ trách nội, anh Lê Công làm viện phó phụ trách hậu cần.
Viện 211 có 1 đội ngũ cán bộ được lựa chọn trong các chuyên viên của hai bệnh viện 108 và 103 (211 là số cộng của 108 và 103).
Khu ngoại có các anh Đinh Văn Lạc, phó chủ nhiệm khoa phẫu thuật thần kinh Viện quân y 108, anh Lê Sỹ Liêm, chủ nhiệm khoa phẫu thuật bụng Viện quân y 103, anh Trương Công Cán, phó chủ nhiệm khoa chấn thương chỉnh hình Viện quân y 108.
Khoa nội có các anh Nguyễn Văn Âu, chủ nhiệm khoa truyền nhiễm Viện quân y 108, anh Đỗ Xuân Cương chủ nhiệm khoa nội tiêu hóa Viện quân y 103, anh Vũ Bích, khoa nội thần kinh Viện quân y 103, anh Nguyễn Đăng Giá, nội tim mạch Viện quân y 108 và anh Nguyễn Cảnh cần khoa da liễu Viện quân y 108.
Chuyên khoa có anh Đào Gia Thìn khoa tai mũi họng Viện quân y 108, anh Trần Quang Minh chuyên khoa mắt, anh Nguyễn Trung Lương, phẫu thuật hàm mặt.
Các khoa cận lâm sàng có các anh Phạm Phú Thọ, gây mê hồi sức Viện quân y 108, anh Lê Đức Tu, sinh hóa Đại học Quân y, anh Nguyễn Quang Huy, vi sinh, anh Hà Nhưỡng, giải phẫu bệnh lý Viện quân y 108.
Đa số bác sĩ chủ nhiệm khoa Viện 211 thuộc lớp sinh viên y khoa đầu tiên sau Cách mạng Tháng Tám được đào tạo trong cuộc kháng chiến chống Pháp, là những cán bộ chuyên khoa có kinh nghiệm của các bệnh viện lớn của quân đội ta. Điều đó nói lên sự quan tâm đặc biệt của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng đối với cán bộ, chiến sĩ trên một địa bàn chiến lược quan trọng của Tổ quốc. Như vậy, Tây Nguyên có một bệnh viện với đầy đủ các khoa như Viện 108, với đội ngũ cán bộ có trình độ cao vừa có khả năng cứu chữa thương binh vừa làm nhiệm vụ huấn luyện đào tạo quân y sĩ và bổ túc bác sĩ đáp ứng yêu cầu tác chiến ngày càng lớn của chiến trường.
(1) Anh Võ Văn Vinh thuộc lớp bác sĩ cuối cùng trước Cách mạng Tháng Tám của Trường đại học Y khoa Hà Nội. Anh là một sinh viên giỏi nội trú các bệnh viện và là bác sĩ nội khoa có uy tín trong quân đội. Anh đã bốn lần vượt Trường sơn ra Bắc trong kháng chiến chống Pháp. Năm 1945, ngày đầu Nam tiến anh vào Khu 5 công tác. Năm 1951, anh ra Việt Bắc dự hội nghị rồi lại trở vào Khu 5. Năm 1954 anh tập kết ra Bắc. ở tuổi gần 50, đầu đã điểm bạc, anh lại khoác ba lô vào Tây Nguyên.


