TẾT VÀ CHUYỆN ĐÁNG NHỚ Ở CHIẾN TRƯỜNG TRỊ THIÊN - TÂY NGUYÊN
Đầu năm 1967, sau những đợt tác chiến ở Sa Thầy, Trung đoàn 88 hành quân xuống phía Nam Gia Lai, đóng quân trong rừng già ven biên giới Việt Nam – Campuchia. Giữa đại ngàn hoang vu, bộ đội dựng lán, đào công sự, ổn định nơi trú quân và chuẩn bị đón Tết xa nhà. Trong điều kiện chiến trường gian khổ, tình đồng đội, kỷ luật quân đội và sự chăm lo từ hậu phương đã mang lại cho người lính một cái Tết ấm áp giữa rừng sâu.
au những đợt hoạt động tác chiến vùng Sa Thầy, trung đoàn 88 được Bộ Tư lệnh B3 (Tây Nguyên) điều động xuống phía Nam. Tháng 1 năm 1967, trung đoàn đứng chân địa bàn tỉnh Gia Lai ven biên giới Việt Nam - Campuchia.
Mấy ngày hành quân không nghỉ, tiểu đoàn 7 vượt lộ 19 trú quân bắc cao điểm 732 và sông Iadrăng (nam Tây Nam huyện lỵ Đức Cơ). Đây là vùng đồi núi với những khu rừng nguyên sinh bạt ngàn. Vào rừng nếu không quen thuộc địa hình, không địa bàn trong tay khó xác định phương hướng. Cây cao vời vợi, tàn lá ken dày nhiều tầng không thấy bóng mặt trời. Hiếm hoi mới bắt gặp một vài tia nắng. Tám giờ sáng mới nhìn rõ mọi vật. Ba giờ chiều đã xâm xẩm tối. Nhiều cây đường kính ước chừng cả mét. Phổ biến là các loại cây gần một người ôm. Hôm đi nghiên cứu địa hình vùng đóng quân, đồng chí Tham mưu trưởng suýt xoa luôn miệng: “Cả một kho báu, kho báu khổng lồ đồng chí Tiểu đoàn trưởng ạ! Người ta nói rừng vàng biển bạc đâu sai. Đồng chí xem này, vô vàn các loại cây quý: Gõ, Cẩm Lai, Giáng Hương, cha ơi! Cả Lim và Trắc nữa... Có lẽ bao thứ gỗ đắt giá trên đời đều hội tụ cả đây...”. Đồng chí ấy thao thao bất tuyệt về lai lịch từng loại cây. Là cán bộ đại đội thời đánh Pháp, miền Bắc độc lập, đồng chí được chuyển ngành đi học lớp trung cấp lâm nghiệp, rồi Đại học Nông lâm, trở thành kỹ sư giỏi nghề rừng. Đánh Mỹ giải phóng miền Nam, đồng chí tình nguyện trở lại quân ngũ. Sau mấy lớp tập huấn quân sự, đồng chí được điều về làm Tham mưu trưởng tiểu đoàn tôi. Quét mắt qua, đồng chí phân biệt rành rẽ từng loại cây và giá trị của nó. Tôi tuy sống bám rừng nhiều năm thời kháng chiến đánh Pháp ở miền Nam. Tập kết ra Bắc đóng quân ở Nghệ An cũng mất cả năm “đẵn tre chặt gỗ trên ngàn” đưa về xuôi làm doanh trại. Thế mà hiểu cây rừng tôi như... Đi lạc vào rừng chả biết mô tê gì. Tôi chỉ châm bẩm đến thứ nấm mối, cây riềng, quả gùi.... Nấm mối sản sinh trong rừng ăn không chê vào đâu được. Nó mọc từng cụm, từng vạt nhỏ khoảng nửa mét vuông đến bằng chiếc chiếu trải. Gặp được tụt ngay bồng hoặc cởi áo nhặt túm mang về. Được nó quý hơn ăn rau củ nào khác có ở rừng. Chỉ một bụm bỏ vào nồi nước đun sôi, thêm chút muối, không cần bột ngọt, cả tiểu đội có món canh ngon lành. Nước ngọt lịm như nước gà luộc. Bỏ miếng nấm vào miệng như nhai thịt gà xé phay. Còn riềng, thứ gịa vị không thể thiếu khi làm món giả cầy. Với lính vượt Trường Sơn, nó là thứ ưu đãi trời cho nơi hoang dã, băm nhỏ trộn với muối hột trở thành thức ăn chủ lực hàng ngày. Nó không phải dễ tìm, thỉnh thoảng mới gặp.
Tiểu đoàn đóng quân trong cụm rừng già chưa dấu chân người lai vãng. Một con suối cạn lưng chừng ống quyển nước trong như lọc, nhìn thấy cả sỏi màu sắc óng ánh dưới đáy. Tre lồ ô to bằng bắp chân, cao hàng chục mét ken dày với cây rừng tha hồ sử dụng làm lán trại. Đã có tre ắt có măng. Măng non nhiều vô kể. Có được thứ thực phẩm dễ chế biến ăn độn thêm càng chắc bụng. Ở đây kín đáo yên tĩnh. Suốt ngày không nghe tiếng pháo ùng oàng từ căn cứ Mỹ từng chập vãi đạn vào rừng. Chỉ bị quấy rầy lỗ tai bởi tiếng động cơ như chuông ngân của loại máy bay do thám Xi-ben lượn lờ tầm cao tọc mạch dòm ngó. “Cho mày tìm, ở đây kín lắm. Bọn ông giữ nghiêm kỷ luật lửa khói đếch sợ”. Nói thế chứ vừa đặt balô, việc đầu tiên của lính là tháo cuốc đào ngay công sự. Đề phòng phi pháo và tránh bị tập kích bất ngờ ở mặt đất xem như chuyện ăn ngủ, chuyện thở của lính thường ngày. Ai dám khinh địch, chủ quan đồng nghĩa với đổ máu. Điều này với lính ta là bài học nằm lòng.
Trong hai ngày toàn tiểu đoàn hoàn thành lán trại, công sự. Nghị quyết Đảng ủy được quán triệt từng chi bộ cấp đại đội, từng tổ Đảng cấp trung đội. Được biến thành quyết tâm khi đưa ra Hội đồng quân nhân. Trú quân bất kỳ đâu từ một đến hai ngày được phép nằm võng. Hai ngày trở lên phải nằm sạp. Lâu hơn phải có lán trại hẳn hoi. Điều này lúc đầu chấp hành vì tính tổ chức kỷ luật, sau trở thành thói quen tự giác có nếp, chỉ huy không phải đôn đốc nhắc nhở. Cứ tổ ba người một lán. Lán có sạp nằm mắc được màn. Vách thưng lá đùng đình hoặc tre nứa đập dập ghép lại. Mái lợp bằng tre lồ ô chẻ đôi úp chồng lên nhau. Làm thế không hề có một giọt nước dột. Nếu trú quân trong tầm khống chế hỏa lực địch, thay cho lán nổi trên mặt đất bằng lán âm phải sâu một mét trở lên.
Hôm ấy 29 Tết âm lịch. Còn một ngày hết năm Bính Ngọ (1966) bước sang Đinh Mùi (1967). Tuổi tôi sắp qua ba con giáp chẵn: Ai nấy phấn khởi được cấp trên cho về đây nghĩ ngơi đón Tết dưỡng sức sau một năm hoạt động liên miên bất kể ngày đêm.
Tôi đi kiểm tra việc ăn ở, phòng thủ của các đại đội về tiểu đoàn bộ. Đồng chí trợ lý hậu cần báo cáo việc cung cấp thực phẩm, nhu yếu phẩm cho bộ đội. Nghe qua ai cũng mừng rơn. Chắc chắn được một cái Tết xôm tụ. Mỗi khẩu phần được hai lạng rưỡi thịt tươi, ba lạng nếp, ba lạng đường trắng, một lạng đậu xanh, một lạng kẹo, ba điếu thuốc lá Tam Đảo. Mỗi tổ một hộp sữa nước, một gói trà Ba Đình loại hai, nửa ký thịt chà bông. Mỗi tiểu đội có bộ bài Tây và bàn cờ tướng. Thế quá đủ trong điều kiện muôn vàn khó khăn hạn chế ở chiến trường. Sự chăm lo chu đáo của Đảng, Chính phủ, nhân dân cả nước với chiễn sĩ nơi tuyến đầu Tổ quốc làm ai cũng xúc động. Chỉ nỗi buồn đón Tết không ai ngoài lính với nhau cùng cây rừng và những hòn đá tảng to tướng...
Đây là cái Tết thứ hai của chúng tôi khi về lại chiến trường Miền Nam.


