THẠCH THỊ LÂM CỰU CHIẾN BINH (4)

VẾT THƯƠNG CỦA CHIẾN TRANH CỦA BÀ THẠCH THỊ LÂM
---------------------------------------------
Bà Thạch Thị Lâm, sinh năm 1950, năm nay 75 tuổi. Bà hoạt động Cách mạng ở Lào với nhiệm vụ đưa bộ đội vào đưa thương binh liệt sĩ về biên giới Việt Nam để trị thương. Bà kể:
Năm 1968, khi vừa tròn 18 tuổi, tôi tình nguyện đăng ký tham gia cách mạng. Tháng 10 năm 1968, tôi nhập ngũ, sau ba tháng huấn luyện thì được cử sang Lào để phục vụ chiến đấu. Trong thời gian hoạt động ở Lào, cuộc sống vô cùng khó khăn, gian khổ, có cả sự hy sinh, mất mát. Nhưng ở độ tuổi 18–20, chúng tôi ai cũng hăng hái, dũng cảm và quyết tâm vượt qua tất cả. Nhiệm vụ của chúng tôi là đưa bộ đội vào chiến trường, chuyển thương binh liệt sĩ ra và làm công tác mở đường. Đường bị đánh phá thì chúng tôi đi mở đường để xe tiếp tục di chuyển. Cuộc sống sinh hoạt ở Lào rất thiếu thốn, nhất là nước sinh hoạt. Ăn uống, tắm giặt đều vô cùng khó khăn, nhưng vì một lý tưởng chung là sống và chiến đấu để bảo vệ Tổ quốc, nên chúng tôi đã vượt qua tất cả gian khổ.
Là một đảng viên vì thế tôi càng ý thức rõ trách nhiệm của mình, trong quá trình công tác, bản thân tôi luôn năng nổ hoàn thành tốt các công việc được giao. Đến năm 1971, vào lúc 5h sáng lúc trời còn chưa sáng tôi được phân công dẫn đường cho bộ đội. Tôi là người dẫn đường và đi đầu nhưng không may lại dẫm phải mìn của địch. Ban đầu tôi không biết mình đã bị thương nặng bởi vì trời còn khá tối, tôi chỉ cảm thấy người khuỵu xuống, không đứng dậy được. Phía sau tôi còn ba đồng đội nữa và cũng bị thương, nhưng họ nhẹ hơn, còn tôi thì phải nằm lại tại chỗ chờ đồng đội đến đưa về tuyến sau. Lúc bấy giờ, tôi mới biết mình đã bị mất đi bàn chân. Tôi đau lắm, vừa đau tôi vừa rất khát nước, do mất máu quá nhiều. Sau đó, tôi được đưa về biên giới Việt Nam để điều trị. Ban đầu, tôi chỉ bị mất một phần bàn chân, nhưng do vết thương bị nhiễm trùng, các bác sĩ buộc phải cắt lên cao hơn. Sau ca phẫu thuật trước, tôi tỉnh lại, nghe các bác sĩ nói phải tiếp tục cắt. Thì lúc đó tôi buồn lắm, tôi nói với các anh: “Các anh ơi, các anh đừng cắt đầu gối của em, để lại đầu gối cho em, để em còn bò.” Lúc ấy tôi mới đôi mươi, bản thân còn rất non nớt, cũng không nghĩ đến cuộc sống sau này sẽ ra sao. Tôi chỉ nghĩ rằng nếu còn giữ được đầu gối thì còn có thể bò để di chuyển được.
Nhưng khi tỉnh hẳn lại, không còn thấy đầu gối nữa, tôi đã bật khóc, tôi khóc rất nhiều. Các anh rất thương tôi, rơm rớm nước mắt theo, nhưng hoàn cảnh lúc đó buộc phải cắt cao hơn, không thể giữ chân lại. Các anh động viên tôi rằng sau này sẽ được lắp chân giả, nhưng khi ấy tôi cũng chưa hình dung được chân giả là như thế nào.
Hồi đó, điều kiện y tế vô cùng thiếu thốn, thuốc men rất hiếm, đặc biệt là thuốc kháng sinh. Tôi còn nhớ, khi phẫu thuật hồng cầu của tôi xuống rất thấp mà lại không có máu để truyền. May mắn thay, có một chị đồng đội quê ở Thanh Hóa, chị ấy vừa mổ ruột thừa được ba tháng, cùng nhóm máu với tôi. Các anh đã xin của chị ấy 100cc máu để cứu tôi. Sau khi truyền máu cho tôi, vì sức khỏe quá yếu nên chị bị ngất đi. Khi tỉnh lại, các anh có kể cho tôi nghe, tôi hỏi các anh “Chị ấy ở đâu để em còn cảm ơn chị”, thì tôi được biết tên chị ấy là Nguyệt là người đã hiến máu cứu sống tôi, nhưng tôi chưa kịp cảm ơn thì chị đã được chuyển đi và đến bây giờ thì tôi vẫn chưa tìm gặp lại để cảm ơn người động đội ấy.
Tình đồng chí, đồng đội trong chiến tranh là như thế. Ở chiến trường, nhiều thương binh không kịp đưa ra tuyến sau, vết thương bị hoại tử, đau đớn vô cùng. Chúng tôi thiếu thuốc sát trùng, thiếu nước, thiếu rất nhiều thứ. Mỗi buổi sáng, một người sẽ được phát 1 bát nước, cái bát B52 để đánh răng, rửa mặt. Một tuần thì chúng tôi đi đến khe suối để tắm 2 lần. Riêng phụ nữ thì điều kiện sinh hoạt, vệ sinh lại càng khó khăn hơn
Việc đưa bộ đội vào thì dễ, nhưng việc đưa liệt sĩ về phía sau là điều ám ảnh nhất mà có thể tôi sẽ không bao giờ quên. Có những liệt sĩ bị thương quá nặng, không qua khỏi thì chúng tôi phải bọc tăng, buộc chặt, nhưng sau nhiều ngày mới đưa được về. Vì chúng tôi chỉ hoạt động vào ban đêm và sống trong rừng, khi đưa các liệt sĩ đã mất ra, tôi còn nhớ tôi đã rất sợ, vừa thương nhưng cũng vừa sợ, còn sợ địch, sợ bom mìn, rất nhiều nỗi sợ mà đối với tôi là có thể ám ảnh suốt cả đời. Đến bây giờ nghĩ lại tôi vẫn không thể tưởng tượng sao lúc đấy mình có thể hoàn thành nhiệm vụ đó.
Tôi còn nhớ có một đồng đội nam quê Hà Tây, anh ấy còn rất trẻ, rất đẹp nhưng anh đã hy sinh trong lúc phá mìn mở đường, vì anh là nam nên đi một mình còn chúng tôi là nữ nên ba người đi chung với nhau, anh thì phá từ bên kia đến còn chúng tôi thì phá mìn theo hướng ngược lại cho đến khi gần gặp nhau thì không may mìn ở chỗ anh nổ, anh bị thương rất nặng, tôi nghe được tiếng anh gọi tôi: “Lâm ơi, cứu anh với!” nhưng vì không thông được đường nên không thể sang cứu anh sớm hơn. Khi sang được thì anh đã hy sinh. Hình ảnh chàng trai ấy, giọng anh gọi tên tôi đã làm tôi ám ảnh tôi suốt nhiều năm sau. Tôi day dứt vì anh đã gọi tên tôi, tôi nghe thấy nhưng vẫn không thể cứu được anh.
Tuổi thanh xuân của tôi đã trãi qua như thế, và có lẽ tôi đã để lại cả tuổi trẻ của mình nơi chiến trường. Sau này, khi sức khỏe dần ổn định, tôi được tập đi nạng, gắn chân giả, rồi dần dần cũng có thể đi lại, nhưng hầu hết là di chuyển bằng xe lăn. Tôi được điều trị tại quân y một thời gian, sau đó về Nghệ An năm 1977. Đến năm 1994, tôi được chuyển vào Vũng Tàu để tiếp tục điều trị và nghỉ ngơi ở khu Điều dưỡng thương binh huyện Long Đất. Nơi đây, chúng tôi đều có một phòng riêng, rộng rãi và đầy đủ tiện nghi, đối với tôi nơi đây như quê hương thứ hai, được sống trong ngôi nhà chung với các đồng đội, nhận được sự chăm sóc tận tình của cán bộ, nhân viên y tế và sự quan tâm của các cấp, các ngành. Nhờ vậy, tôi cũng dần ổn định tinh thần, tin tưởng vào cuộc sống, sống lạc quan và yêu đời hơn.
Chiến tranh đã cướp đi rất nhiều sinh mạng, để lại vô vàn những mất mát, đau thương về mặt thể chất và tinh thần. Từng tất đất là sương là máu của đồng đội tôi. Họ đều là những người lính còn rất trẻ. Như nhà thơ Thanh Thảo đã viết:
“ Chúng tôi đã đi không tiếc đời mình
(Nhưng tuổi 20 làm sao mà không tiếc)
Nhưng ai cũng tiếc tuổi 20 thì còn chi Tổ Quốc?”
(Khúc bảy - Thanh Thảo)
Những gì tôi kể lại chỉ là một phần rất nhỏ trong những gian khổ mà chúng tôi đã trải qua. Tôi muốn chia sẻ câu chuyện của mình để thế hệ sau hiểu hơn về chiến tranh, về sự hy sinh của những con người đã sống và chiến đấu vì Tổ quốc.



