Thân nhân liệt sĩ (7)
NHỮNG CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA
Chiều cuối tháng Ba, tôi tìm về xóm nhỏ ven sông Hậu, nơi có căn nhà đơn sơ nằm dưới bóng cây gạo già đang mùa thắp lửa, những chùm hoa đỏ rực như những giọt máu của đồng đội năm nào, như tấm lòng của mẹ ông - người đã tiễn con trai ra trận và ngóng đợi dưới gốc cây này cho đến những ngày cuối đời. Ở đó, tôi gặp ông Nguyễn Văn Sáu, cựu chiến binh Tiểu đoàn 307 năm xưa, với mái tóc đã bạc trắng như mây, đôi mắt đã mờ nhưng mỗi khi nhắc về "thời hoa lửa", ánh nhìn của ông lại sáng lên lạ thường như chính những ngọn lửa nhỏ từ những bông hoa gạo đang bung nở trên đầu. Ngồi bên ấm trà nóng, ông chậm rãi kể về ngày chia tay mẹ năm 1972 - một buổi sáng mùa xuân khi cây gạo còn nhỏ lắm, chỉ cao bằng bắp chân, mẹ ông dặn dò: "Đi giữ nước rồi về, mẹ đợi dưới gốc cây này. Khi nào hoa gạo nở đỏ trời là con về nghe con!" - câu nói ấy hơn năm mươi năm trôi qua vẫn văng vẳng bên tai ông mỗi độ tháng Ba về, và tôi nhìn thấy những giọt nước mắt của người lính già lặng lẽ lăn trên gò má nhăn nheo khi nhắc về lời hẹn năm xưa với mẹ. Ông kể về những ngày vào chiến trường miền Đông gian khổ, rừng thiêng nước độc, sốt rét rừng hành hạ, nhưng hơn cả là nỗi nhớ nhà da diết, những đêm nằm trong hầm nghe tiếng bom rơi ông lại nhẩm tính chắc ở quê nhà cây gạo mẹ trồng đã lớn thêm một chút. Rồi giọng ông bỗng trầm xuống khi kể về trận đánh cuối cùng ngày 30 tháng 4 năm 1975, khi tiểu đoàn nhận lệnh tiến vào giải phóng Sài Gòn, ai nấy đều mừng run biết rằng ngày toàn thắng đã đến gần, nhưng chiến thắng nào cũng có cái giá của nó, và cái giá ấy là người đồng đội thân thiết nhất của ông - anh Ba Đức, cùng quê, cùng nhập ngũ một ngày - đã gục ngã ngay trước mặt ông trong lúc xông lên đánh chiếm mục tiêu cuối cùng. Ông kể trong nước mắt: "Nó gục trước mặt tôi, tay vẫn nắm chặt khẩu súng, mắt nhìn về hướng tiến quân, tôi ôm nó vào lòng chỉ kịp nghe nó thì thào: 'Nhắn với mẹ... tao về trễ... một chút...'". Ngày trở về làng sau chiến thắng, cây gạo mẹ trồng ngày nào giờ đã cao lớn tỏa bóng mát rợp cả một góc sân, nhưng mẹ ông không còn ở đó nữa - mẹ mất trước ngày giải phóng hai tháng, nghe người làng kể mẹ vẫn ra gốc cây gạo mỗi chiều ngóng về hướng đông nơi ông đi, đến những ngày cuối đời vẫn dặn: "Thằng Ba về thì bảo nó... mẹ đợi nó dưới gốc cây...". Nghe ông kể mà lòng tôi nghẹn lại, cảm giác bất lực trước nỗi đau của thế hệ cha anh khiến tôi thấy mình thật nhỏ bé, tôi nhận ra rằng hòa bình hôm nay được đánh đổi bằng mồ hôi, nước mắt và cả máu xương của biết bao thế hệ cha anh đã ngã xuống. Nhìn lên những chùm hoa gạo đỏ thắm đang bung nở trong nắng chiều như những ngọn lửa nhỏ đang cháy thắp sáng cả một góc trời quê hương, tôi chợt hiểu "thời hoa lửa" không chỉ là những năm tháng đạn bom khói lửa, mà còn là những con người - như ông Sáu, như mẹ ông, như anh Ba Đức - đã thắp lên ngọn lửa yêu nước bằng chính cuộc đời mình, họ là những đóa hoa đẹp nhất nở rộ trong gian khó tỏa hương thơm cho đời sau, và trách nhiệm của thế hệ trẻ hôm nay là phải giữ cho những "bông hoa" ấy mãi nở rực rỡ trong lòng dân tộc, để mỗi độ tháng Ba về, hoa gạo lại nở đỏ rực như lời hẹn năm nào: "Khi nào hoa gạo nở đỏ trời là con về..." - con về trong ký ức, con về trong lòng mẹ, con về trong những trang sử vàng của dân tộc Việt Nam.



