Người có công giúp đỡ cách mạng

THÂN THẾ, SỰ NGHIỆP VÀ DI SẢN CỦA THIÊN HỘ VÕ DUY DƯƠNG TRONG PHONG TRÀO KHÁNG CHIẾN NAM KỲ

Đồng Tháp02/10/2026Đoàn phường Tân Tạo (Phường Tân Tạo)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Phong trào kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân Nam Bộ nửa cuối thế kỷ XIX là một trong những trang sử bi tráng và oanh liệt nhất của dân tộc Việt Nam. Khi thực dân Pháp nổ tiếng súng xâm lược đầu tiên vào Đà Nẵng năm 1858 rồi chuyển hướng đánh chiếm Gia Định năm 1859, khắp miền Nam bừng bừng ngọn lửa cứu nước. Giữa muôn vàn tấm gương trung dũng, hình tượng Võ Duy Dương – người đời kính cẩn tôn xưng là Thiên Hộ Dương – rực sáng như một thủ lĩnh quân sự xuất chúng, một nhà tổ chức tài ba và là hiện thân cho ý chí quật cường của nhân dân Nam Bộ.

Dù sinh ra trên đất võ Bình Định, cuộc đời và tên tuổi của ông lại gắn chặt với vùng đất sình lầy Đồng Tháp Mười, nơi ông và các nghĩa binh biến một vùng đầm lầy hoang vu thành pháo đài kháng chiến kiên cố, chặn đứng bước tiến quân thù suốt nhiều năm ròng rã. Nghiên cứu cuộc đời và sự nghiệp của ông không chỉ giúp thế hệ hôm nay hiểu rõ tầm vóc của phong trào Cần Vương bất khuất mà còn làm sáng tỏ nghệ thuật chiến tranh nhân dân, chiến tranh du kích đặc sắc của cha ông ta.

CHƯƠNG 1: THỜI NIÊN THIẾU VÀ CON ĐƯỜNG VÀO PHƯƠNG NAM (1827 – 1859)

1.1. Quê hương và truyền thống gia đình

Võ Duy Dương sinh năm Đinh Hợi (1827) tại thôn Cù Lâm Đông, huyện Tuy Viễn, phủ Quy Nhơn (nay thuộc xã Nhơn Tân, thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định). Mảnh đất Bình Định thuở ấy vốn là cái nôi của phong trào nông dân Tây Sơn kiệt xuất, nơi truyền thống thượng võ và tinh thần tự do ăn sâu vào từng nếp nghĩ của người dân địa phương.

Sinh ra trong một gia đình thuần nông, cuộc sống thời thơ ấu của Võ Duy Dương gặp nhiều gian khó. Tuy nhiên, bù lại sự thiếu thốn về vật chất, ông được trời phú cho một thể lực phi thường, dáng người cao lớn, vạm vỡ, đôi mắt sáng và tính tình bộc trực. Tương truyền từ thuở thiếu thời, ông đã nổi tiếng khắp vùng về tài cử đao, múa côn, đặc biệt là khả năng nâng những tảng đá lớn hàng trăm cân mà người thường không lay chuyển nổi. Bên cạnh rèn luyện thân thể, ông sớm say mê các cuốn sách về binh thư, đồ trận, nuôi dưỡng tinh thần xả thân vì nghĩa khí.

Anh hùng dân tộc Võ Duy Dương (Ảnh: Tư liệu)

1.2. Cuộc thiên di vào Nam Bộ và công cuộc khẩn hoang

- Vào giữa thế kỷ XIX, dưới triều vua Tự Đức, vùng duyên hải miền Trung gặp nhiều đợt thiên tai, mất mùa, cùng với đó là sức ép ruộng đất đè nặng lên vai người nông dân. Lúc bấy giờ, triều đình nhà Nguyễn ban hành nhiều chính sách khuyến khích khẩn hoang, mộ dân lập ấp nhằm khai mở vùng đất trũng Lục tỉnh Nam Kỳ.

- Năm Đinh Tỵ (1857), ở tuổi 30, tràn đầy sinh lực và chí hướng lập nghiệp, Võ Duy Dương quyết định rời quê hương Bình Định, vượt đường biển vào phương Nam. Điểm dừng chân đầu tiên của ông là vùng Ba Giồng (thuộc địa phận tỉnh Định Tường xưa, ngày nay trải dài qua các huyện Cai Lậy, Cái Bè, Châu Thành của tỉnh Tiền Giang). Đây là một dải đất giồng cao, nằm kẹp giữa sông Tiền và vùng đầm lầy trũng phèn Đồng Tháp Mười.

- Tại Ba Giồng, nhờ bản tính trượng nghĩa, thật thà và sức vóc hơn người, Võ Duy Dương nhanh chóng tạo dựng được uy tín lớn trong cộng đồng lưu dân. Ông tập hợp bà con khai hoang đất hoang hóa, đào kênh dẫn nước, lập đồn điền, chia ruộng cho người nghèo cày cấy. Chính quá trình lao động khai khẩn này đã giúp ông am hiểu tường tận hệ thống kênh rạch chằng chịt, quy luật con nước lớn ròng cũng như tập quán của người dân phương Nam. Đây là nền tảng thực tiễn vô cùng quý báu cho sự nghiệp quân sự của ông sau này.

CHƯƠNG 2: DẤY BINH CỨU NƯỚC VÀ THỜI KỲ ĐƯỢC PHONG THIÊN HỘ (1859 – 1862)

2.1. Đứng lên cùng triều đình chống thực dân Pháp

- Đầu năm 1859, liên quân Pháp – Tây Ban Nha do Đô đốc Rigault de Genouilly chỉ huy đưa hạm đội tấn công vào vịnh Cần Giờ, nã pháo thiêu rụi thành Gia Định. Nguy cơ mất nước hiện hữu ngay trước mắt, nhân dân Nam Bộ không cam chịu khuất phục.

- Tại Định Tường, khi nghe tin quan quân triều đình phòng ngự khó khăn trước hỏa lực vượt trội của đại bác phương Tây, Võ Duy Dương lập tức biến các nông dân trong đồn điền Ba Giồng thành những nghĩa binh thiện chiến. Ông đứng ra kêu gọi hàng trăm dân dũng khỏe mạnh, quyên góp lương thực, rèn dao rựa, giáo mác thành vũ khí, tổ chức thành các toán dân binh tham gia bảo vệ phòng tuyến Kỳ Hòa (Gia Định) và chốt chặn cửa sông Định Tường.

2.2. Thụ phong Thiên hộ và các chiến công phối hợp

- Chứng kiến uy tín và tài năng lãnh đạo nghĩa dũng của Võ Duy Dương, các đại thần phụ trách việc quân ở Nam Kỳ lúc bấy giờ như Nguyễn Tri Phương, Trương Đăng Quế đã tâu lên triều đình Huế. Vua Tự Đức chuẩn tấu, phong cho ông chức Chánh quản cơ, sau thăng hàm Thiên hộ (vị tướng lĩnh chỉ huy quản lý một đơn vị dân quân đồn điền khoảng một nghìn người). Từ cột mốc này, người dân Nam Bộ thường gọi ông bằng cái tên trang trọng, trìu mến: Thiên Hộ Dương.

- Trong giai đoạn từ 1860 đến 1862, Thiên Hộ Dương vừa củng cố lực lượng cơ động tại Ba Giồng, vừa phối hợp chặt chẽ với Bình Tây Đại nguyên soái Trương Định tại Gò Công. Nghĩa quân của ông áp dụng triệt để lối đánh thoắt ẩn thoắt hiện trên sông nước:

+ Tập kích đồn bốt: Tổ chức tấn công chớp nhoáng vào ban đêm vào các chốt tiền tiêu của quân Pháp dọc sông Tiền, cướp súng đạn rồi lập tức rút lui an toàn.

+ Phục kích đường bộ: Chặn đánh các đoàn xe tiếp tế lương thực, đạn dược của quân Pháp di chuyển trên đường liên tỉnh nối liền Tân An, Cai Lậy và Mỹ Tho.

+ Tiêu hao thủy quân: Cắm cọc ngầm, thả bè lửa trên các ngã ba sông làm chìm nhiều xuồng tuần tra của liên quân Pháp – Tây Ban Nha.

- Những thắng lợi liên tiếp này đã cổ vũ mạnh mẽ tinh thần kháng chiến của sĩ dân Lục tỉnh, biến Ba Giồng thành một trong những điểm nóng khiến Bộ chỉ huy quân sự Pháp tại Sài Gòn phải e ngại.

CHƯƠNG 3: BẤT TUÂN CHIẾU CHỈ VÀ TỔNG HÀNH DINH ĐỒNG THÁP MƯỜI (1862 – 1865)

3.1. Phẫn nộ trước Hiệp ước Nhâm Tuất 1862

- Ngày 5 tháng 6 năm 1862, triều đình nhà Nguyễn ký với Pháp bản Hiệp ước Nhâm Tuất, cam kết nhượng đứt ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ (Gia Định, Định Tường, Biên Hòa) cho giặc, bồi thường chiến phí và ban lệnh nghiêm cấm nhân dân kháng cự, yêu cầu các thủ lĩnh bãi binh hoặc rút quân ra Bình Thuận.

- Chiếu chỉ bãi binh như gáo nước lạnh dội vào bầu nhiệt huyết của nghĩa sĩ Nam Kỳ. Tương tự như Trương Định tại Gò Công, Võ Duy Dương đặt nghĩa nước lên trên lệnh triều đình. Ông khảng khái tuyên bố: "Nước mất thì nhà tan, giặc cướp đất đai của tổ tiên thì việc cầm gươm đánh giặc là bổn phận thiêng liêng của muôn dân, không thể theo chiếu chỉ giải giáp quy hàng". Ông quyết định ly khai lệnh triều đình, giữ vững lời thề đánh giặc đến cùng.

3.2. Lựa chọn Đồng Tháp Mười làm đại căn cứ

- Nhận thấy vùng đồng bằng Định Tường đã bị quân Pháp chiếm đóng và kiểm soát nghiêm ngặt bằng tàu chiến, nếu tiếp tục cố thủ tại Ba Giồng thì sớm muộn cũng bị bao vây tiêu diệt, Võ Duy Dương quyết định di chuyển toàn bộ đại quân rút sâu vào Đồng Tháp Mười.

- Đồng Tháp Mười lúc bấy giờ là một vùng trũng khổng lồ rộng hàng trăm nghìn héc-ta, quanh năm ngập nước, lau sậy, cỏ lác mọc rậm rạp cao lút đầu người, muỗi mòng và đỉa dày đặc. Đây là vùng đất "hiểm địa" mà người Pháp coi là tử địa không thể thâm nhập:

+ Về địa lý quân sự: Tàu chiến to lớn của thực dân Pháp hoàn toàn bất lực trước mạng lưới đầm lầy nông và cỏ dại chằng chịt. Ngược lại, nghĩa quân sử dụng thuyền độc mộc, xuồng ba lá lướt đi nhẹ nhàng, thông thạo luồng lạch.

+ Vị trí chiến lược: Nằm ở vị trí trung tâm, từ Đồng Tháp Mười có thể dễ dàng tỏa quân đánh sang Tiền Giang, vượt biên giới sang Campuchia, vòng lên Tây Ninh hoặc cơ động sang vùng Bến Tre, Vĩnh Long.

3.3. Tổ chức thế trận đồn lũy tại Gò Tháp

Võ Duy Dương chọn Gò Tháp (nay thuộc huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp) – một gò đất cát cổ cao ráo nổi bật giữa lòng đồng lầy – để đặt đại bản doanh. Dưới sự cộng sự đắc lực của vị tướng mưu lược Đốc binh Nguyễn Tấn Kiều (còn gọi là Đốc Binh Kiều), căn cứ Gò Tháp được xây dựng bài bản:

a. Hệ thống đồn bốt phòng thủ nhiều tầng:

- Đồn Tiền: Bố trí án ngữ phía ngoài, ngăn chặn các luồng tiến quân từ Mỹ Tho vào.

- Đồn Tả và Đồn Hữu: Kiểm soát các cánh đồng trũng hai bên sườn, sẵn sàng bao vây bọc hậu khi địch lọt vào bẫy.

- Đồn Trung tâm (Bản doanh Gò Tháp): Nơi đặt bộ chỉ huy, kho tàng lương thảo và trại chỉ huy nghĩa quân.

b. Xưởng rèn vũ khí và hậu cần:

- Nghĩa quân thu gom đồng, sắt vụn trong nhân dân để mở các lò rèn đúc giáo mác, đao kiếm, chế tạo súng hỏa mai, đại bác thô sơ và tên độc.

- Dân chúng khắp các tỉnh miền Tây tiếp tế lúa gạo, muối và thuốc men. Nghĩa quân còn tranh thủ mùa khô gieo cấy lúa nổi, đánh bắt cá tôm để tự chủ nguồn lương thực dài hạn.

c.     Mạng lưới tình báo nhân dân:

- Thiết lập các trạm quan sát trên ngọn cây dầu, cây tràm cổ thụ; ban ngày dùng khói, ban đêm đốt lửa hoặc gióng trống báo động truyền tin khắp vùng đầm lầy.

3.4. Chiến thuật chiến tranh du kích tài ba

Tại Đồng Tháp Mười, Thiên Hộ Dương và Đốc Binh Kiều đã sáng tạo nên những chiến thuật phòng ngự và tập kích vô cùng độc đáo:

+ Tác chiến đầm lầy: Lợi dụng bùn lầy, nghĩa quân gài bẫy chông tre, hố chông ngầm dưới mặt nước; khi quân địch sa lầy, nghĩa quân bất ngờ từ các lùm lau sậy xông ra giáp lá cà, tước đoạt vũ khí.

+ Vũ khí sinh học tự nhiên: Nghĩa quân biết cách thuần dưỡng và điều khiển các đàn ong vò vẽ, ong đất. Khi quân Pháp hành quân vào mé rừng, nghĩa quân dùng dây giật tổ ong rơi trúng đội hình đối phương khiến hàng ngũ địch hỗn loạn trước khi tung lực lượng xung phong.

+ Tập kích chớp nhoáng: Thường xuyên đưa các đội cảm tử dùng xuồng nhỏ len lỏi ban đêm đánh phá các đồn bốt của Pháp tại Cai Lậy, Cái Bè, Sa Đéc, gây hoang mang cực độ cho bộ máy cai trị thuộc địa.

CHƯƠNG 4: TRẬN HUYẾT CHIẾN GÒ THÁP VÀ SỰ HY SINH OANH LIỆT (1866)

4.1. Thực dân Pháp mở cuộc tổng càn quét

- Nhận thấy căn cứ Đồng Tháp Mười thực sự là một hiểm họa đe dọa trực tiếp đến nền thống trị thuộc địa non trẻ ở Nam Kỳ, Bộ chỉ huy quân đội Pháp tại Sài Gòn quyết tâm xóa sổ bản doanh Gò Tháp bằng mọi giá.

- Vào giữa tháng 4 năm 1866, người Pháp huy động một lực lượng quân sự quy mô chưa từng có do Thiếu tá De Poumayrac chỉ huy, phối hợp cùng nhiều cánh quân từ Mỹ Tho, Tân An và Sa Đéc. Lực lượng tấn công bao gồm hàng nghìn lính Pháp, lính khố đỏ, nhiều khẩu đội pháo binh hạng nặng và hàng chục ca nô, tàu chiến nhỏ có khả năng luồn lách vào kênh rạch nông.

- Quân Pháp chia thành ba cánh lớn hợp vây:

+ Cánh thứ nhất: Tiến từ sông Vàm Cỏ Tây đánh thấu vào mặt Bắc.

+ Cánh thứ hai: Từ Cai Lậy men theo sông Ba Rài đánh thốc vào Đồn Tiền.

+ Cánh thứ ba: Tiến từ hướng Tiền Giang, tạo gọng kìm khép kín toàn bộ đầm lầy.

4.2. Huyết chiến giữ đồn Gò Tháp

- Cuộc chiến diễn ra vô cùng khốc liệt từ ngày 14 đến ngày 16 tháng 4 năm 1866. Dù chênh lệch cực lớn về trang thiết bị vũ khí hiện đại, Võ Duy Dương và Đốc Binh Kiều đã chỉ huy nghĩa quân kiên cường chống trả từng tấc đất:

+ Nghĩa quân chặn đứng nhiều đợt đổ bộ của giặc tại các đồn bảo vệ ngoài rìa; nhiều sĩ quan Pháp và tay sai bị hạ sát ngay tại cửa rừng tràm.

+ Nhận thấy khó có thể dùng bộ binh tấn công trực diện vào đầm lầy hiểm trở, quân Pháp dùng đại bác tầm xa bắn liên tục vào Gò Tháp, đồng thời áp dụng thủ đoạn hỏa công, đốt cháy các đồng lau sậy đang vào độ khô hạn. Ngọn lửa hung tàn bốc cao ngùn ngụt, khói độc bao trùm căn cứ.

- Trong làn mưa bom bão đạn và biển lửa, Đốc binh Nguyễn Tấn Kiều bị thương nặng rồi anh dũng hy sinh tại trận tiền. Mất đi cánh tay đắc lực, căn cứ bị cô lập hoàn toàn và cạn kiệt đạn dược, Võ Duy Dương đành nuốt nước mắt ra lệnh cho các cánh quân mở đường máu vượt vòng vây về hướng Cao Lãnh, nhằm bảo toàn lực lượng nòng cốt cho cuộc chiến lâu dài. Căn cứ Đồng Tháp Mười sau nhiều năm bất khả xâm phạm cuối cùng đã bị giặc san phẳng.

4.3. Chuyến đi cuối cùng và cái chết bi tráng

- Sau khi thoát khỏi vòng vây của quân Pháp tại Đồng Tháp Mười, Thiên Hộ Dương không hề nản chí. Ông tập hợp những nghĩa binh trung kiên còn lại, di chuyển tạm thời về vùng rừng U Minh và biên giới Tây Nam để chấn chỉnh đội ngũ.

- Để có đủ lực lượng và vũ khí hiện đại nhằm chuẩn bị cho cuộc phản công phục thù, Võ Duy Dương quyết định chọn giải pháp vượt biển ra kinh đô Huế để yết kiến triều đình. Ông mang theo tâm nguyện giải thích rõ tình thế chiến trường Nam Kỳ, dâng biểu trần tình kế sách đánh giặc du kích lâu dài và thỉnh cầu triều đình chi viện thêm vũ khí, súng thần công cùng kinh phí đánh Pháp.

- Cuối năm 1866, Võ Duy Dương cùng một số tùy tùng thân cận vượt đường bộ ra vùng biển Bình Thuận, rồi thuê thuyền buồm giong buồm vượt biển ra Bắc. Đáng tiếc thay, đây lại là chuyến hải trình định mệnh.

- Khi thuyền di chuyển đến vùng biển thuộc cửa Cần Giờ/Thần Mẫu, một cơn giông bão dữ dội bất ngờ ập đến làm lật chìm thuyền (một số tài liệu lịch sử dân gian ghi lại giả thuyết thuyền của ông bị bọn hải tặc cướp biển phục kích tấn công giữa lúc bão tố). Võ Duy Dương cùng các nghĩa binh cận vệ đều tử nạn, thi thể trôi dạt vào bờ biển. Ông trút hơi thở cuối cùng khi mới 39 tuổi – độ tuổi rực rỡ nhất của tài năng và chí khí.

CHƯƠNG 5: ĐÁNH GIÁ NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ VÀ TƯ TƯỞNG CỦA THIÊN HỘ DƯƠNG

5.1. Bậc thầy nghệ thuật chiến tranh nhân dân trên địa hình đầm lầy

Võ Duy Dương đã để lại dấu ấn sâu sắc trong lịch sử quân sự nước nhà với tư cách là người đặt nền móng xuất sắc cho nghệ thuật chiến tranh đầm lầy:

+ "Dĩ đoản chế trường": Ông đã khéo léo dùng chính sự khắc nghiệt của địa hình đầm lầy ngập úng để triệt tiêu sức mạnh hỏa lực cơ giới và tàu chiến hạm đội hiện đại của đối phương – một bài học kinh điển được kế thừa trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ sau này.

+ Dựa chắc vào dân: Nghĩa quân của ông không sống tách rời nhân dân. Tinh thần "quân với dân như cá với nước" thể hiện ở việc nghĩa quân vừa cầm gươm đánh giặc, vừa giúp dân gieo cấy lúa mùa, bảo vệ cuộc sống bình yên của thôn ấp. Do đó, dù Pháp nhiều lần treo thưởng ngàn vàng nhưng không một người dân nào phản bội căn cứ.

5.2. Biểu tượng của tinh thần quật cường "Thà chết vinh còn hơn sống nhục"

- Quyết định không tuân lệnh triều đình giải giáp buông gươm của Võ Duy Dương thể hiện tư tưởng độc lập, tự chủ và tinh thần yêu nước vượt lên trên khuôn phép phong kiến lỗi thời. Đối với ông, lòng trung thành tối thượng không phải là tuân theo mù quáng những chiếu chỉ thỏa hiệp hèn nhát, mà là trung thành với vận mệnh của non sông và nỗi đau của đồng bào đang rên xiết dưới gót giày xâm lược.

CHƯƠNG 6: TƯỞNG NIỆM VÀ SỰ TRI ÂN CỦA DÂN TỘC

- Dù phong trào kháng chiến Đồng Tháp Mười khép lại trong bi tráng, tấm gương tận trung báo quốc của Thiên Hộ Võ Duy Dương đã hóa thành tượng đài bất tử trong lòng người dân Việt Nam, đặc biệt là nhân dân miền Tây Nam Bộ.

6.1. Đền thờ và Lễ hội Gò Tháp (Đồng Tháp)

- Tại Khu di tích Quốc gia đặc biệt Gò Tháp (xã Tân Kiều, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp), nhân dân địa phương đã đời đời lập đền thờ phụng Thiên Hộ Dương và Đốc Binh Kiều.

- Hằng năm, vào các ngày 14, 15, 16 tháng 11 âm lịch, chính quyền và nhân dân tỉnh Đồng Tháp long trọng tổ chức Lễ giỗ Đốc Binh Kiều và Thiên Hộ Võ Duy Dương. Lễ hội truyền thống này thu hút hàng trăm nghìn lượt khách hành hương từ khắp các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và TP. Hồ Chí Minh về dâng hương, chiêm bái, tưởng nhớ công đức tiền nhân.

6.2. Tri ân tại quê nhà Bình Định

- Tại quê hương thôn Cù Lâm Đông (xã Nhơn Tân, thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định), chính quyền và dòng tộc họ Võ đã xây dựng Đền thờ Danh tướng Võ Duy Dương. Ngôi đền khang trang uy nghiêm là nơi giáo dục truyền thống yêu nước hào hùng cho các thế hệ học sinh, sinh viên đất võ Tây Sơn, nối liền nhịp cầu ân tình son sắt giữa hai miền Trung – Nam.

6.3. Tên đường, trường học và các công trình văn hóa

Tên tuổi của Võ Duy Dương và tước hiệu Thiên Hộ Dương ngày nay được trang trọng đặt cho nhiều tuyến đường trục chính, trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông tại TP. Hồ Chí Minh, tỉnh Tiền Giang, tỉnh Đồng Tháp, tỉnh Long An và tỉnh Bình Định, nhắc nhở thế hệ hôm nay mãi khắc ghi công ơn của người anh hùng đã ngã xuống vì nền độc lập của nước nhà.

TỔNG KẾT BẢNG NIÊN BIỂU SỰ KIỆN

Năm

Diễn biến sự kiện chính trong cuộc đời Võ Duy Dương

1827

Sinh ra tại thôn Cù Lâm Đông, huyện Tuy Viễn, phủ Quy Nhơn (nay thuộc Nhơn Tân, An Nhơn, Bình Định).

1857

Rời quê hương vào Nam Kỳ lập nghiệp, tham gia khai hoang lập đồn điền tại vùng Ba Giồng (Định Tường).

1859

Thực dân Pháp đánh chiếm thành Gia Định; ông chiêu mộ nghĩa dũng Ba Giồng đứng lên đánh giặc.

1860

Phối hợp với quân thứ triều đình, được sắc phong chức Chánh quản cơ, sau thăng hàm Thiên hộ.

1861 – 1862

Liên kết với Trương Định, tổ chức nhiều trận phục kích tiêu diệt sinh lực địch tại Tân An, Mỹ Tho, Cai Lậy.

1862

Triều đình ký Hiệp ước Nhâm Tuất và ra lệnh bãi binh; ông kiên quyết bất tuân chỉ dụ đầu hàng.

1863 – 1865

Rút đại quân về Đồng Tháp Mười, chọn Gò Tháp lập đại căn cứ kháng chiến trường kỳ cùng Đốc Binh Kiều.

04/1866

Pháp tổng tấn công căn cứ Gò Tháp; nghĩa quân kiên cường huyết chiến; Đốc Binh Kiều hy sinh, căn cứ thất thủ.

Cuối năm 1866

Trên đường vượt biển ra kinh đô Huế dâng sớ xin viện binh, ông gặp bão biển và hy sinh oanh liệt ở tuổi 39.

        Tài liệu:

1.    Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục (Chính biên, Đệ tứ kỷ), Bản dịch của Viện Sử học, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 2007.

2.    GS. Trần Văn Giàu, Chống xâm lăng (Toàn tập Lịch sử cận đại Việt Nam), Nhà xuất bản Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, 2001.

3.    Nguyễn Phan Quang, Phong trào kháng Pháp của nhân dân Nam Bộ (1859 – 1885), Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1995.

4.    Hội đồng Khoa học Xã hội tỉnh Đồng Tháp, Lịch sử tỉnh Đồng Tháp (Tập 1: Từ khởi thủy đến năm 1945), Nhà xuất bản Đồng Tháp, 1998.

5.    Ban Quản lý Di tích Quốc gia Đặc biệt Gò Tháp, Kỷ yếu hội thảo khoa học: Thân thế, sự nghiệp Thiên Hộ Dương và Đốc Binh Kiều trong cuộc kháng chiến chống Pháp tại Đồng Tháp Mười, Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch tỉnh Đồng Tháp, 2012.

6.    Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Bình Định, Tài liệu nghiên cứu khoa học lịch sử: Danh tướng Võ Duy Dương và truyền thống thượng võ vùng đất An Nhơn, Sở Văn hóa - Thông tin Bình Định, 2004.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn