Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

THẦN TỐC, THẦN TỐC HƠN NỮA!

Đoạn hồi ký tái hiện các mũi tiến công của lực lượng Tăng – Thiết giáp phối hợp với bộ binh trong ngày 30-4-1975 tại hướng Tây Nam Sài Gòn. Các đại đội xe tăng đã vượt sông, đánh chiếm nhiều mục tiêu quan trọng như trạm ra đa Phú Lâm, ngã tư Bảy Hiền, Biệt khu Thủ đô và tiến vào Dinh Độc Lập, hợp điểm cùng các quân đoàn chủ lực. Trước đó, xe tăng số 843 của Lữ đoàn 203 do Bùi Quang Thận chỉ huy đã húc đổ cổng và cắm cờ giải phóng tại Dinh Độc Lập. Đặc biệt, Đại đội 45 vượt Đồng Tháp Mười gian k

Lai Châu27/02/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tôi đang làm nhiệm vụ phó chủ nhiệm Chính trị Binh chủng Tăng - Thiết giáp thì ngày 22-1-1975 được quyết định vào B2 nhận công tác mới. Theo lệnh của Bộ Tư lệnh Binh chủng tôi lên đường vào Lữ 215 đóng tại Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh để cùng tổ chức xe tăng vào B2.

Công việc chuẩn bị hành quân của Đoàn 215 hết sức khẩn trương. Chỉ trong 38 ngày Lữ đoàn vừa ổn định tổ chức, trang bị và huấn luyện bổ sung một số khoa mục cần thiết. Tôi làm việc cả ngày lẫn đêm với Ban chỉ huy Lữ đoàn 215 và đồng chí tham mưu trưởng Đoàn 26, chỉ đạo công tác kỹ thuật, trực tiếp chỉ đạo công tác Đảng, công tác chính trị cho các phân đội. Một số việc làm gần đến ngày hành quân.

Ngày 13-3-1975 kiểm tra Tiểu đoàn 2, quân số 174 đồng chí, có 26 đảng viên. Đảng ủy có 7 đồng chí, 4 chi bộ. Có 6 đồng chí quyết tâm chưa cao, ý thức kỷ luật còn yếu, trang bị 26 xe PT - 85 (loại xe tăng lội nước, của Trung Quốc sản xuất, cỡ pháo 85mm) 25 xe hoàn chỉnh và một xe đang chuẩn bị.

13 giờ 30 ngày 13-3-1975 bàn kế hoạch hành quân. Ngày 15-3- 1975 tôi phổ biến chỉ thị công tác Đảng công tác chính trị cho các chính trị viên tiểu đoàn. Nội dung gồm: Tiếp tục xây dựng, củng cố quyết tâm thật vững, càng hành quân càng cứng cáp (vì các đơn vị này vừa mới xây dựng). Thường xuyên quán triệt tư tưởng chỉ đạo hành quân, công tác chính trị bảo đảm kỹ thuật xe phải tốt. Tăng cường rèn luyện nâng cao trình độ mọi mặt trên đường đi “Biến đường hành quân thành thao trường luyện tập”. Phát huy sự lãnh đạo của các tổ chức Đảng nhất là các chi bộ đại đội), rèn luyện đảng viên. Làm tốt công tác chính sách. Nắm chắc tình hình tư tưởng nội bộ, kịp thời phát huy ưu điểm, ngăn ngừa tiêu cực, làm tốt công tác chính trị trong một số hoàn cảnh hành quân. Phát động đợt thi đua từ 14-3 đến hết 30-4-1975 “Vì miền Nam ruột thịt”. Khẩu hiệu hành quân “Thần tốc”.

Ngày 14-3-1975, đúng 19 giờ 00 tôi làm việc với thủ trưởng Trung đoàn 206 để nhận một tiểu đoàn tăng cường cùng hành quân. Trung đoàn 206 mãi đến ngày 17-2-1975 mới nhận được nhiệm vụ. Như thế, Đoàn 275 gồm 2 tiểu đoàn của Lữ 215 và 1 tiểu đoàn của Trung đoàn -206 Quân khu 4, trang bị gồm xe tăng, xe thiết giáp và các xe bảo đảm.

Chúng tôi thông qua kế hoạch hành quân với tinh thần “đi thần tốc - kịp thời cơ”. Quãng đường hành quân dài 1.148 km từ Quảng Châu (Quảng Bình - đường 22) đến Bù Đốp (Sông Bé - đường 14). Chia làm 25 chặng, có 5 chặng trên đất Bắc: Quảng Châu, Sông Gianh, Ba Trại, Lệ Kỳ, Nam Long Đại. Nhập tuyến B tại Ngã tư Đất. 21 chặng đường Trường Sơn. Đến khi kết thúc cuộc chiến tranh đường hành quân có chiều dài 16.000 km với 5 tuyến dọc và 21 tuyến ngang.

Đơn vị hành quân theo 5 cung:

- Cung I: Quảng Châu - Lệ Kỳ: 157 km.

- Cung 2: Nam Long Đại - Bắc Sêvannong: 228 km.

- Cung 3: Canốt - Bắcvanong: 244km .

- Cung 4: Bắc San - Nam Sêrêpốc: 363km.

- Cung 5: Đắc Dam - Bù Đốp: 156km .

Đường Trường Sơn có ống dẫn dầu dài 3082 km, chia làm 12 trạm tiếp nhiên liệu: Sông Gianh, Nam Long Đại, Tân Lâm, Bắc Sêvanong, trạm giao liên 13, Bản Đam, Bắc San, KÔ Bắc, Bản Phi, Jasups, Dăcdam, Công Tôn. Đoàn đến trạm Long Đại dừng 2 ngày để cố định bổ sung dầu, đạn. . .

Chặng 5 làm thủ tục nhập tuyến, bổ sung cho mỗi người hành quân 1 kg đường, ½ kg sữa bột. Chặng 8 nghỉ 1 ngày bổ sung lương thực. Chặng 13 nghỉ 3 ngày: 2 ngày cho bảo dưỡng cấp 2, 1 ngày rút kinh nghiệm. Từ chặng 16 trở đi bổ sung dầu vào ban đêm.

Kế hoạch hành quân rất tỉ mỉ và thực hiện cơ bản đúng. Đoàn hành quân thần tốc, diễn ra -khá quy củ, chính quy. Chúng tôi thừa hưởng những kinh nghiệm hành quân đường dài bằng xích sang Lào, vào B2, B3 trước đó. Thông thường ra chiến trường (xa nhất là B2) đi bằng nhiều phương tiện, chở bằng tàu hỏa, chở trên xe chở xe tăng (xe maz) nhưng phân nửa đường đi phải bằng xích. Đường dài từ 750km đến 2000km tận gần phân nửa giờ máy nổ. Công tác kỹ thuật phải đặc biệt chú trọng.

Kinh nghiệm cho thấy trên đường Trường Sơn trung bình 300km một đại đội T54 phải tiêu hao mất 10 - 12 tấn khí tài, việc tiêu hao nhiên liệu cũng lớn. Do đó việc bảo đảm nhiên liệu, khí tài nổi lên hàng đầu để cho xe đi đến đích. Về nhiên liệu Đoàn 559 đảm bảo đầy đủ. Đến trạm cứ đưa phiếu ra lãnh không bao giờ thiếu hụt. Cám ơn bộ đội xăng dầu 559. Chiến công của xe tăng có phần đóng góp xứng đáng của các anh.

Ngày 15-3 Đoàn xuất phát. Tôi cùng bộ phận chỉ huy nhẹ trong đó có đồng chí Sửu - Tham mưu trưởng Đoàn M 26 Bộ Tư lệnh Thiết giáp (B2) đi trên một xe Vọt tiến (trung xa do Trung Quốc chế tạo) đi sau tiểu đoàn đầu. Hàng ngày các tiểu đoàn báo cáo bằng đài 15 W về cơ quan chỉ huy để xử trí.

Các đoàn đều có cán bộ kỹ thuật, trợ lý tác chiến tăng cường. Đi cuối đoàn có bộ phận thu dung, sửa chữa. Mỗi tiểu đoàn đều có khả năng sửa chữa thông thường. Có khi gặp trục trặc tôi phải quay lại xem xét và có biện pháp xử lý. Lượng thông tin hàng ngày đến phần nhiều là tình hình đường sá, cầu cống và kỹ thuật xe.

Mới đi một chặng mà Tiểu đoàn 1 có xe 955 ở bắc Thác Cóc vượt qua ngầm bị ngập nước. Cách Bản Đông 16 km xe 550 cháy cực bình điện. Xe 962 đến Lệ Kỳ sửa chữa xong nhưng thiếu dầu nhờn cho bộ máy ly hợp chuyển động. Xe 432 (của đại đội trưởng Đại đội 12) cách trạm 13 khoảng 33 km bị cháy ổ bi “ghita”, xe 442 xe của tiểu đoàn trưởng) bị cháy đai hãm lớn ở khu vực H5 cách sông Bạt 20km, xe 968 mất 4 ốc ly hợp chuyển hướng. . .

Tôi không thể ghi ra đây hết mọi trường hợp nhưng tình hình từng xe hư hỏng đều được báo cáo về Sở chỉ huy và cho ý kiến xử trí. Nhật ký của tôi ghi dày đặc những sự cố đó. Có trường hợp khi đến nam Bản Đông thì gặp một cái cầu gỗ xe phải dừng lại không dám đi, sợ sập. Có 2 ý kiến: cứ chặt cây làm cầu vệt tăng cường để qua, ý kiến khác, cho chắc ăn làm ngầm bên cạnh, tốn công nhưng bảo đảm. Sau khi được điện tôi đến tại chỗ, họp bàn với anh em công binh nghiên cứu tìm cách khắc phục.

Tôi chui xuống cầu cùng với đại đội trưởng công binh thấy mồ cầu có chỗ rạn, cẩu mỏng manh làm sao chịu được trọng lượng chiến đấu 36 tấn của xe T54. Chúng tôi quyết định sơ tán đội hình theo đường và làm ngầm vượt qua. Sau 5 tiếng đồng hồ anh em công binh mới làm xong. Xe đi đầu qua còn khó khăn, lại phải bạt bớt cho dốc thoải hơn, kè đá và gỗ vào chỗ đất xốp thì cả đoàn mới qua chót lọt.

Công tác bảo đảm đường sá hết sức quan trọng. Luôn luôn phải có công binh bên cạnh xe tăng. Công binh phải am hiểu tính năng của các loại xe tăng, thiết giáp để có cách bảo đảm kết quả nhất. Có một lần xe đến trạm K5 bắc T73 thì được báo cáo của một tiểu đoàn không có phiếu lãnh dầu nhờn tại trạm bắc Sê Sụ.

Tôi cử một cán bộ kỹ thuật lấy xe tô “vọt tiến” quay lại để kiểm tra cụ thể vì sao không lãnh được dầu nhờn, đồng thời đem phiếu dự trữ để dùng khi cần thiết. Phải quay lại trạm K5 bắc ngã ba đường 8 - bắc Sê Sụ mất gần 100km, phải vượt qua đèo Ăng Bun ở km 7 - 13 đường 22. Lái xe tỏ ra ngại và báo cáo là xe tô đến thời kỳ bảo dưỡng 2, phải nghỉ tại trạm để điều chỉnh, thay dầu mỡ nên không đi được đi trở lại xe sẽ phải nằm lại dọc đường. Tôi nghi ngờ về tình hình đó vì xe mới lãnh tại sao lại nhanh đến mức bảo dưỡng 2? Xem đồng hồ km tôi bảo lái xe là chưa đến thời kỳ bảo dưỡng 2 vì xe mới chạy được hơn 2000km, phải đến 2700 - 3000 km hành trình mới phải bảo dưỡng. Lái xe biết mình bịp chỉ huy không được nên đành phải đi.

Câu chuyện thật nhỏ nhặt nhưng lại cho tôi một bài học không nhỏ trong cuộc đời người cán bộ làm công tác Đảng ở một Binh chủng chiến đấu bằng phương tiện kỹ thuật. Người chiến sĩ lái xe tô kia vì ngại gian khổ phải đi về trên đoạn đường Trường Sơn 100km, đã che giấu sự ngại gian khổ bằng lý do kỹ thuật. Nếu người cán bộ lãnh đạo chỉ huy không am hiểu kỹ thuật sẽ gặp khó khăn ra sao trong trường hợp cả đoàn xe chỉ có 1 xe tô để chỉ huy.

Không khí chiến thắng của chiến trường động viên, đoàn 275 nâng cao tốc độ, hành quân đi cả ban ngày trên một số chặng. Với tinh thần thần tốc, đoàn đến đích vượt kế hoạch thời gian với tỷ lệ 93% xe. Vừa đến nơi, đoàn lao vào chuẩn bị chiến đấu trong chiến dịch Hồ Chí Minh.

Sau 2 ngày giao nhận tại Bù Đốp, các tiểu đoàn hành quân tham gia chiến đấu ngay. Tiểu đoàn 1 hành quân theo đường Tráng Bom, Xuân Lộc. Tiểu đoàn 2 theo đường Hậu Nghĩa - miền Tây (232). Tiểu đoàn 3 tăng cường cho Quân đoàn 4. Sau khi đại bộ phận đến đích tôi đến ngay Đoàn M 26 (Bộ Tư lệnh Thiết giáp B2). Anh Mười Tân (tức Bùi Tân) phó Chánh ủy đoàn đưa tôi gặp anh Lương Văn Nho tham mưu phó B2 tại Bộ tham mưu vào tối 16-4-l975.

Ngày 17-4-1975 tôi đến Cục Chính trị gặp anh Nguyễn Văn Quảng (Năm Phòng) Cục phó Cục Chính trì Miền, báo cáo tình hình và trao đổi công việc. Tôi không có giấy tờ gì giới thiệu của Tổng cục Chính trị mà chỉ điện cho B2. B2 đang đợi tôi. Sau đó tôi được bổ nhiệm Chánh ủy Bộ Tư lệnh Thiết giáp B2 (Đoàn 26), được chỉ định là Bí thư Đảng ủy. Anh Mai Văn Phúc, ra Bắc chữa bệnh vừa vào làm Tư lệnh.

Chúng tôi họp Đảng ủy Đoàn và phân công anh Mai Văn Phúc - Tư lệnh đi cánh Đông (Quân đoàn 4), Tôi - Chánh ủy cùng anh Thọ - Phó chủ nhiệm chính trị đi cánh Tây. Trước đó anh Phạm Hà Hải - phó Tư lệnh đoàn cùng anh Lê Như Hòa, Tham mưu phó đoàn đã đi cánh 232. Tôi đuổi theo và gặp nhau trên đường tiến quân.

Thế là vừa đến nơi, tôi đi ngay chiến dịch. Tôi tranh thủ ghé qua Cục Hậu cần Miền gặp anh Hai Vĩnh cục phó Cục Hậu cần Miền, báo tin sức khỏe mẹ nhưng anh Hai Vĩnh đã đi với cánh Quân đoàn 4. Cơ quan chuẩn bị cho tôi một chiếc xe Jeep lấy ở Phước Long nhưng tình trạng kỹ thuật không đảm bảo, tôi đã đổi cho anh Phùng ở Tây Nguyên vào một chiếc xe khác tốt hơn. Tôi và anh Thọ - Phó thủ nhiệm cùng đi Anh em đã chuẩn bị cho tôi cái võng 2 lớp để chống lại muỗi ở Đồng Tháp Mười.

Từ căn cứ Minh Hòa tôi sang Samát đến Lò Gò nghỉ đêm tại ven rừng Nhúm Tây Ninh. Hôm sau đến Tà Nết (rừng mỏ vẹt Camphuchia). Chiều hôm đó có mấy người bạn Campuchia lấy nước thốt nốt tươi từ trên cây xuống cho chúng tôi giải khát. Bộ đội từ xa đến, bảy ngày phải đưa đơn vị đến vị trí tập kết chiến đấu trong khi đóng quân cách xe hàng trăm km. Tất bật chuẩn bị mọi mặt để kịp xuất phát.

Tôi và các anh Lê Như Hòa, Thọ đến một số phân đội để phổ biến kinh nghiệm. của số đơn vị xe tăng qua tấn công trong hành tiến từ Buôn Mê Thuộc vào. Đó là kinh nghiệm hành quân, chiến đấu rừng núi, còn đây là hành quân, tác chiến vùng đồng bằng nhưng dù sao cũng có nhiều bổ ích. Từng phân đội phải phát huy tính chủ động cao.

Hướng cánh quân 232 có 3 tiểu đoàn xe tăng và 1 đại đội độc lập. Tổng cộng 80 xe, phần nhiều là xe tăng bơi và Thiết giáp, chia làm 2 mũi: Một mũi cùng với Sư đoàn Bộ binh 3 đánh chiếm bàn đạp phía đông sông Vàm Cỏ Đông, giải phóng tỉnh Hậu Nghĩa và ngoại Ô Sài Gòn. Một mũi cùng Sư đoàn bộ binh 9 thọc sâu vào Sài Gòn đánh chiếm trạm ra đa Phú Lâm, trường đua Phú Thọ, Bộ Tư lệnh biệt khu Thủ đô, Tổng nha cảnh sát và hợp điểm chiếm Dinh Tổng thống ngụy quyền, Một đại đội phôi thuộc cho Sư đoàn 5 vượt qua Đồng Tháp Mười cắt đường 4 không cho địch từ Sài Gòn về Mỹ Tho. Lần đầu đưa lực lượng lớn hành quân tác chiến vùng đồng bằng sông rạch, các đơn vị thiết giáp đã chủ động, đảm bảo kỹ thuật.

Đêm 27, rạng 28-4 bộ binh đánh địch ở An Hiệp trong 4 giờ liền không dứt điểm. Nhưng khi Đại đội 33 với 9 xe tăng, xe bọc thép M41 , M113, K63, PT85 bơi qua sông Vàm Cỏ bước vào chiến đấu, sau 2 giờ chiếm được An Hiệp. Địch Xô nhau chạy về rừng Dầu Tân Mỹ, xe tăng đuổi theo diệt hơn 70 tên, bắt nhiều tù binh, 10 giờ 45 phút ngày 29-4- 1975, giải phóng hoàn toàn thị xã Hậu Nghĩa, sau đó tiến nhanh về Đức Hòa, cùng với đơn vị bạn giải phóng toàn tỉnh.

Đơn vị thọc sâu phối thuộc cho Sư đoàn 9 bí mật vượt qua sông Vàm Cỏ Đông, tiến theo đường 10, qua kênh Cầu Sáng đánh địch ở Tây Nam Sài Gòn. Chiếc xe tăng đi đầu của Đại đội 6 vừa tiến lên thì cầu sập, các xe tăng khác phải bơi qua sông chi viện cho bộ binh chiếm trạm ra đa Phú Lâm vào 8 giờ sáng ngày 30-4-1975, phát triển sang chiến trường đua Phú Thọ.

Đại đội 3 quay lại theo đường 9A vượt qua cầu Bông, chi viện Trung đoàn 2 bộ binh Sư đoàn 9 diệt và đánh tan rã 2 tiểu đoàn biệt động ở Vĩnh Lộc. Sau đó tiến vào ngã tư Bảy Hiền vào lúc 8 giờ 30 phút cùng với xe tăng của Quân đoàn 3 đánh địch.

Đại đội tăng 5, lúc 10 giờ 15 phút ngày 30-4-1975 cùng bộ binh chiếm Biệt khu Thủ đô (nay là cơ quan Bộ chỉ huy Quân sự thành phô). Đến 11 giờ 42 phía Đại đội 5 tiến vào dinh Tổng thống ngụy quyền và hợp điểm với xe tăng Quân đoàn 2 ở đây.

Trước đó khoảng một giờ, hồi 10 giờ 45 phút, chiếc xe tăng số hiệu 843 thuộc Lữ đoàn 203 do đại đội trưởng Bùi Quang Thận Xông vào dinh Độc Lập và kéo lá cờ giải phóng lên đỉnh cột cờ. 12 giờ Đại đội 5 chiếm Tổng nha Cảnh sát ngụy.

Ở hướng Tây nam, ngày 28-4-1975 Đại đội 45 Tiểu đoàn Thiết giáp 23 thực hiện cuộc hành quân vô cùng gian khổ và dũng cảm vượt qua Đồng Tháp Mười. Trong 4 ngày xe tăng sa lầy 49 lần. Bộ binh, công binh cùng với nhân dân tích cực bảo vệ cho xe cơ động. Muốn tìm một đoạn tre về đóng cọe chống lầy có khi phải đi xa 4-5km. Có đoạn đường 6km phải lót bằng cánh cửa, cột nhà để xe tăng đi qua. Đại đội xe tăng bơi trên 20km trên sông Vàm Cỏ Tây và ngày 30-4-1975 đã nổ súng đánh tan một giang đoàn địch bắn chìm một tàu, thu toàn bộ giang đoàn gồm 14 chiếc, bắt sống chỉ huy và trên 170 lính ngụy.

Đây là một trận thủy chiến có một không hai trong lịch sử Binh chủng Tăng - Thiết giáp. Sau đó xe tăng hành quân tắt qua cánh đồng bất ngờ đánh chợ Thăng Yên, vượt kinh Ba Lèo, giải phóng Tân Hiệp, cùng trung đoàn bộ binh làm chủ Tân An - Bến Lứe.

Các đơn vị biệt động Sài Gòn phối hợp với các đơn vị Thiết giáp, nhân dân chủ động làm công tác liệt sĩ. Ngày 30-4-1975 trong trận chiến đấu tại ngã tư Bảy Hiền, liệt sĩ được đưa vào cánh đồng Tân Bình chôn cất. Các mục tiêu phân công cho cánh Tây Nam đều thực hiện tốt. Chỉ tiếc là hành động chậm không kịp cắm cờ Dinh Tổng thống ngụy quyền.

Sau chiến dịch, ngày 6-7-1975 Đảng ủy và Bộ Tư lệnh cánh quân 232 nhận xét: “Trong chiến dịch Bến Cầu và chiến dịch Hồ Chí Minh. . . Đoàn 26 đã có quyết tâm cao, tinh thần tấn công tốt, ra sức khắc phục khó khăn. Tuy chơa có kinh nghiệm chiến đấu bằng xe tăng ở chiến trường đồng bằng sình lầy, phải vượt sông sâu nhưng đã hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, phát huy vai trò đột kích của xe tăng tấn công các mục tiêu quan trọng”.

Thế là sau 33 năm tôi trở lại Sài Gòn. Quang cảnh đã khác xưa, vùng ngã tư Bảy Hiền lúc bấy giờ còn trồng cao su. Vùng Tân Định đêm nằm còn nghe tiếng ếch nhái kêu, nay đường sá rộng rãi, nhà cửa mọc lên san sát. Nhân dân đổ ra đường, cờ Giải phóng rợp phố. Xe tôi lướt nhanh qua các đường phố. Đại thắng nhưng Sài Gòn vẫn giữ được nguyên vẹn, không bị tàn phá vì bom đạn.

Sài Gòn với Bến Nhà Rồng, nơi Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước sẽ được xây dựng lại “Đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”, xứng đáng với tên lịch sử “Thành phố Hồ Chí Minh”.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn