Khác

Tháng 2 năm 1979 trong ký ức một cựu binh

Quảng Ninh07/08/2026Xã Tân Long (Đoàn xã Tân Long)16 lượt xem0 lượt chia sẻ

Khi chiến tranh biên giới tháng 2/1979 nổ ra thì chúng tôi đang là sinh viên năm cuối của khoa Trung, Đại học Sư phạm ngoại ngữ Hà Nội. Những bài ca như “Tiếng súng đã vang trên bầu trời biên giới”… thôi thúc cánh sinh viên chúng tôi tình nguyện lên đường đi chiến đấu.

Ngày ngày chúng tôi náo nức chờ thông tin từ mặt trận truyền về, háo hức chờ đợi được lên đường ra mặt trận để tham gia chiến đấu chống quân xâm lược... Chúng tôi lên Khoa, lên Trường để đề đạt nguyện vọng, nhưng đều được trả lời: “Cứ yên tâm học và chờ đợi, khi nào tổ chức yêu cầu thì sẽ xem xét”.

Chiến tranh biên giới kết thúc sau hơn 1 tháng sục sôi. Nhưng vẫn còn đâu đó thông tin về một cuộc chiến tranh tổng lực lại sắp nổ ra, về những đoàn cán bộ quân đội vào trường tuyển quân, về những đợt tái ngũ, trở lại phục vụ quân đội. Và nguyện vọng của chúng tôi cũng được xem xét! Một đoàn cán bộ của Cục Nghiên cứu, Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam nghiên cứu hồ sơ và gọi nhập ngũ 15 sinh viên theo tiêu chuẩn “học giỏi, lý lịch tốt”.

Chúng tôi nhập ngũ, sau ba tháng huấn luyện, được phong hàm sĩ quan và đúng như ý nguyện, sử dụng tiếng Trung vào việc phục vụ chiến đấu và chuẩn bị chiến đấu.

Đối mặt với chúng tôi lúc đó không phải là những tên lính hung hăng, tàn bạo trên chiến trường, mà là những gương mặt thất thần, bạc nhược bị bắt làm tù binh khi họ âm mưu xâm nhập biên giới, hoạt động phá hoại, trinh sát...

Họ thuộc lòng và ra sức biện bạch cho hành động tội ác gây chiến tranh xâm lược, phá hoại những công trình công cộng, nhà dân ở 6 tỉnh biên giới phía Bắc nước ta.

Rồi cuộc chiến tranh lấn chiếm biên giới nổ ra, đầu tiên là ở Yên Minh, Mèo Vạc, sau lan ra Bình Độ 400 (Lộc Bình, Lạng Sơn) và đỉnh điểm là cuộc chiến đẫm máu, dai dẳng kéo dài suốt từ tháng 4/1984 đến tận cuối năm 1989 ở các cụm cao điểm 1509, 772...  ở Vị Xuyên (Trung Quốc gọi là “Lão Sơn”), cụm cao điểm 1250 ở Yên Minh (Trung Quốc gọi là “Giả Âm Sơn”).

Chúng tôi lao vào cuộc chiến mới, làm đủ mọi công việc từ thu thập tin tức, làm và rải truyền đơn, nhập mạng thông tin để tuyên truyền vận động địch, viết và phát loa địch vận... đến quản lý, khai thác tù binh phục vụ chiến đấu và đấu tranh ngoại giao.

Chúng tôi nhiều lần lăn lộn cùng anh em ở chiến hào, hứng chịu mưa đạn pháo của địch, cùng nằm trong các “hầm tai mèo” chất bằng rọ đan bằng lưới sắt đựng đá hộc ở khu Bốn Hầm – “Lò vôi thế kỷ”, suốt đêm thức cùng lính, kể chuyện tiếu lâm, uống rượu tự cất từ cơm thừa bằng... mặt nạ phòng độc và nếm trải cảnh bị chuột gặm chân, ngửi mùi xác lính địch bỏ lại trước trận địa phòng ngự, rơi nước mắt khi vận chuyển thi hài đồng đội về phía sau trên xe tải, thét lên vui sướng khi nắm và thông báo những thông tin được báo chí đối phương tiết lộ về những thiệt hại trong những trận đánh từ sau tháng 8/1985.

Có những chuyện, những việc làm không thể nói ra, nhưng chúng tôi tự hào vì mình đã góp một phần công sức, máu, mồ hôi và nước mắt vào cuộc chiến đấu hào hùng những năm tháng biên giới ấy.

Chiến tranh đã qua đi, nhiều anh em trong chúng tôi lại góp công sức vào việc bình thường hóa quan hệ Việt Nam – Trung Quốc, khôi phục tình hữu nghị. Nhưng, lịch sử là lịch sử, lịch sử không cho phép chúng tôi quên đi một cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tổ quốc đầy hào hùng ấy.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn