Bài viết

Tháng Giêng năm 1973, khi những chữ ký trên Hiệp định Paris mở ra hy vọng chấm dứt chiến tranh, ở cửa biển Cửa Việt, tỉnh Quảng Trị, tiếng súng vẫn chưa ngừng. Giữa những cồn cát bị bom đạn cày xới, những người lính tiếp tục giữ từng vị trí, chiến đấu trong thời khắc mà cả dân tộc đang mong đợi hòa

Tháng Giêng năm 1973, khi những chữ ký trên Hiệp định Paris mở ra hy vọng chấm dứt chiến tranh, ở cửa biển Cửa Việt, tỉnh Quảng Trị, tiếng súng vẫn chưa ngừng. Giữa những cồn cát bị bom đạn cày xới, những người lính tiếp tục giữ từng vị trí, chiến đấu trong thời khắc mà cả dân tộc đang mong đợi hòa bình. Trận Cửa Việt từ ngày 25 đến 31/1/1973 là một câu chuyện đặc biệt về ý chí bảo vệ vùng giải phóng và những mất mát còn tiếp diễn ngay sau khi lệnh ngừng bắn có hiệu lực.

Gia Lai28/10/2026Lê Thị Minh (phường Tây Tựu)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

CỬA VIỆT THÁNG GIÊNG 1973: NHỮNG NGƯỜI LÍNH CÒN CHIẾN ĐẤU KHI HÒA BÌNH ĐANG ĐẾN

Tháng Giêng năm 1973, khi những chữ ký trên Hiệp định Paris mở ra hy vọng chấm dứt chiến tranh, ở cửa biển Cửa Việt, tỉnh Quảng Trị, tiếng súng vẫn chưa ngừng. Giữa những cồn cát bị bom đạn cày xới, những người lính tiếp tục giữ từng vị trí, chiến đấu trong thời khắc mà cả dân tộc đang mong đợi hòa bình. Trận Cửa Việt từ ngày 25 đến 31/1/1973 là một câu chuyện đặc biệt về ý chí bảo vệ vùng giải phóng và những mất mát còn tiếp diễn ngay sau khi lệnh ngừng bắn có hiệu lực.

TRẬN CẢNG CỬA VIỆT-ĐÔNG HÀ-QUẢNG TRỊ ( 25-1-1973 – 31-1-1973 ) QUÂN ĐOÀN I VNCH. – biển xưa

Ảnh 1. Sơ đồ diễn biến trận Cửa Việt từ ngày 25 đến 31/1/1973. Tư liệu lịch sử do Thông tấn xã Việt Nam công bố.

Cửa biển chiến lược giữa những ngày chờ hòa bình

Cửa Việt nằm ở nơi dòng sông Thạch Hãn đổ ra Biển Đông. Trong chiến tranh, đây không chỉ là một cửa biển thông thường mà còn là đầu mối giao thông đường thủy có vị trí chiến lược trên chiến trường Quảng Trị. Từ cửa biển này, việc vận chuyển lực lượng, vũ khí, đạn dược và hàng hóa phục vụ chiến trường có thể được tổ chức bằng đường thủy, kết nối với các khu vực sâu trong nội địa.

Sau những cuộc chiến đấu quyết liệt trong năm 1972, cảng Cửa Việt thuộc vùng kiểm soát của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Giữ được Cửa Việt đồng nghĩa với bảo vệ một cửa ngõ quan trọng của vùng giải phóng, đồng thời duy trì thế trận trên hướng đông Quảng Trị.

Đầu năm 1973, cục diện chiến tranh bước vào thời điểm đặc biệt. Cuộc đàm phán Paris kéo dài nhiều năm đã tiến gần đến kết quả cuối cùng. Ngày 23/1/1973, văn bản Hiệp định được ký tắt. Bốn ngày sau, ngày 27/1, Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được chính thức ký kết.

Nhưng trên thực địa, tình hình không đơn giản như những dòng chữ trên văn kiện ngoại giao. Vị trí kiểm soát của các lực lượng khi lệnh ngừng bắn bắt đầu có hiệu lực mang ý nghĩa quân sự và chính trị rất lớn. Bởi vậy, những ngày cuối tháng Giêng, Cửa Việt trở thành một trong những địa bàn diễn ra cuộc tranh chấp quyết liệt.

Cuộc hành quân trước giờ ngừng bắn

Ngày 25/1/1973, quân đội Việt Nam Cộng hòa mở cuộc hành quân mang tên Tango City, với mục tiêu đánh chiếm cảng Cửa Việt và những vị trí trọng yếu xung quanh.

Lực lượng tham gia gồm các đơn vị thủy quân lục chiến, bộ binh, xe tăng, thiết giáp và pháo binh, được hỗ trợ bởi hỏa lực đường không và đường biển. Những phương tiện như xe tăng M48, M41 và xe thiết giáp M113 được đưa vào chiến trường, tạo thành các mũi tiến công cơ giới trên những dải cát ven biển.

Kế hoạch tác chiến được tổ chức theo từng bước: trước hết chiếm các khu vực làm bàn đạp như Thanh Hội, Vĩnh Hòa, Long Quang, An Trạch; sau đó phát triển tiến công về phía cảng Cửa Việt.

Đối diện cuộc hành quân này là những đơn vị Quân Giải phóng thuộc Sư đoàn 320B, Trung đoàn 101 của Sư đoàn 325, lực lượng hải quân K5, bộ đội địa phương và các đơn vị tăng cường. Trong quá trình chiến đấu, một số đơn vị thuộc Sư đoàn 304 cùng lực lượng xe tăng, pháo binh tiếp tục được điều động tham gia.

Ngay khi phát hiện hướng tiến công của đối phương, Bộ Tư lệnh chiến dịch đã điều chỉnh kế hoạch, tập trung lực lượng bảo vệ khu vực Cửa Việt. Các trận địa pháo được tăng cường, bộ binh tổ chức chốt giữ, còn xe tăng và thiết giáp chuẩn bị cơ động chi viện.

Từ ngày 26 đến 30/1, những trận đánh diễn ra liên tiếp. Trong không gian ven biển nhiều cồn cát, rừng phi lao và bãi trống, các lực lượng phòng ngự phải đối mặt với những đợt tiến công có xe tăng dẫn đầu.

Cuộc chiến không chỉ là sự đối đầu về hỏa lực. Nó còn là cuộc thử thách sức chịu đựng của những người lính giữa thời điểm mà hòa bình tưởng như đã ở rất gần.

Đêm vượt sông của người lính xe tăng

Trong những ký ức còn được lưu giữ về trận Cửa Việt, lời kể của Đại tá Bùi Quang Thắng, nguyên Phó tham mưu trưởng Binh chủng Tăng thiết giáp, đặc biệt đáng chú ý.

Tháng 1/1973, ông là chiến sĩ lái xe thuộc Đại đội 1, Tiểu đoàn Bộ binh cơ giới 66, Trung đoàn Tăng thiết giáp 202.

Theo lời kể được Báo Quân đội nhân dân Cuối tuần ghi lại, chiều tối 27/1/1973, đơn vị ông nhận lệnh vượt sông, tăng cường cho trận địa phía nam Cửa Việt.

Đây là một nhiệm vụ đầy nguy hiểm. Địa hình cát ven biển có nhiều bãi mìn được bố trí qua các giai đoạn chiến đấu. Những chiếc xe cơ giới phải bám theo vết xích của xe đi trước, thận trọng tìm đường đến bến vượt.

Khi xe của Bùi Quang Thắng xuống nước, phần đầu xe bất ngờ chúi thấp khiến nước tràn vào cửa lái. Pháo binh đối phương lại bắt đầu bắn dữ dội dọc bờ sông. Chiếc xe phải lùi về tìm vị trí tránh đạn trước khi tiếp tục vượt sông.

Cuối cùng, xe cũng lên được bờ nam.

Đêm ấy, tiếng súng không ngừng vang lên. Người chiến sĩ lái xe cùng đồng đội liên tục cơ động, dùng hỏa lực phối hợp với bộ binh ngăn chặn các mũi tiến công.

Trong điều kiện chiến đấu phức tạp, những người lính phải ứng biến ngay trên chiến trường. Có thời điểm, xe phải dừng lại để xạ thủ sử dụng súng chống tăng B41 từ vị trí trên nóc xe. Có đồng đội bị thương được chuyển xuống các hầm bộ binh gần đó, trong khi xe tiếp tục nhận nhiệm vụ chiến đấu.

Qua nhiều lần xuất kích, họ góp phần giữ vững điểm cao 12, vị trí có sở chỉ huy của Trung đoàn 101.

Điều đáng nhớ trong câu chuyện của Bùi Quang Thắng không chỉ là sự nguy hiểm của một đêm chiến đấu. Đó còn là ký ức về những đồng đội không trở về: Đại đội trưởng Ngô Khoán, người quê Phú Thọ; các chiến sĩ Hòa, Mạnh, Gai, Bảng và nhiều người khác.

Những cái tên được người đồng đội cũ nhắc lại sau hàng chục năm cho thấy chiến tranh không khép lại trong ký ức chỉ bằng một mốc thời gian hay một bản tổng kết chiến công. Phía sau mỗi trận đánh luôn là những cuộc đời cụ thể, những tình đồng đội và những mất mát không dễ nguôi ngoai.

Tạo lập thế trận, tác chiến hiệp đồng binh chủng

Ảnh 2. Bộ đội ta trên xác xe tăng M48 của đối phương sau trận chiến tại Cửa Việt, tháng 1/1973. Ảnh tư liệu: Báo Quân đội nhân dân.

Khi Hiệp định đã có hiệu lực, tiếng súng vẫn chưa dứt

Đúng 8 giờ sáng ngày 28/1/1973, lệnh ngừng bắn theo Hiệp định Paris bắt đầu có hiệu lực trên toàn miền Nam Việt Nam.

Đó là thời khắc được mong đợi sau nhiều năm chiến tranh. Nhưng tại Cửa Việt, tình hình vẫn vô cùng căng thẳng. Những cuộc giao tranh trước giờ ngừng bắn đã khiến lực lượng hai bên ở vào thế giằng co quyết liệt.

Theo hồi ức của cựu chiến binh Bùi Quang Thắng, khoảng 9 giờ sáng 28/1, đơn vị ông bắt đầu làm công tác thương binh, liệt sĩ. Những lá cờ được cắm trên các vị trí kiểm soát, đánh dấu khu vực đóng quân của mỗi bên.

Hình ảnh ấy gợi lên một nghịch lý đau lòng: người lính đã bước qua thời khắc ngừng bắn, nhưng vẫn phải đi tìm đồng đội giữa chiến trường đầy dấu tích bom đạn.

Tại khu vực Cửa Việt, cuộc chiến chưa kết thúc. Những ngày 28 đến 30/1, Quân Giải phóng tiếp tục ngăn chặn các mũi tiến công, đồng thời tổ chức lực lượng chuẩn bị phản công.

Đến cuối ngày 30/1, các đơn vị đối phương ở khu vực nam Cửa Việt và Vĩnh Hòa bị chia thành bốn cụm. Xe tăng, thiết giáp được bố trí ở vòng ngoài để bảo vệ lực lượng bộ binh phía trong.

Bộ chỉ huy cánh Đông quyết định tổ chức một trận phản công hiệp đồng binh chủng, kết hợp pháo binh, bộ binh, xe tăng và các lực lượng chống tăng nhằm phá vỡ đội hình đối phương, khôi phục toàn bộ tuyến phòng ngự.

Ngày 31 tháng Giêng: Trận đánh quyết định

6 giờ 30 phút sáng 31/1/1973, trận phản công quyết định bắt đầu.

Từ các trận địa ở phía bắc sông Thạch Hãn, sông Cửa Việt và những vị trí pháo binh ở Cồn Tiên, Dốc Miếu, hỏa lực được tập trung vào các cụm quân đối phương.

Sau khoảng 30 phút bắn cấp tập, pháo binh chuyển sang nhiệm vụ ngăn chặn lực lượng tiếp viện. Các đơn vị bộ binh, xe tăng từ nhiều hướng đồng loạt tiến công.

Trên những bãi cát ven biển, các tổ chống tăng áp sát mục tiêu, đánh vào xe tăng, thiết giáp để làm suy yếu hệ thống phòng ngự. Những đơn vị ở phía sau đồng thời tổ chức chốt chặn, không để lực lượng đối phương dễ dàng rút lui hoặc tiếp nhận chi viện.

Đến khoảng 8 giờ 30 phút, hai cụm quân tại khu vực cảng Cửa Việt và bắc Vĩnh Hòa đã bị đánh bại.

Các đơn vị tiếp tục phát triển tiến công về phía nam Vĩnh Hòa và bắc Thanh Hội. Đến 12 giờ 30 phút cùng ngày, trận đánh kết thúc. Tuyến phòng ngự từ Cửa Việt đến Thanh Hội, Long Quang được khôi phục.

Theo Bách khoa toàn thư Quân sự Việt Nam, thắng lợi của trận phản đột kích đã góp phần bảo vệ vững chắc vùng giải phóng Quảng Trị, làm thất bại cuộc hành quân Tango City.

Sau bảy ngày đêm chiến đấu, Cửa Việt tiếp tục được giữ vững.

Những con người phía sau chiến thắng

Lịch sử quân sự ghi nhận trận Cửa Việt bằng những diễn biến, đơn vị tham chiến và kết quả tác chiến. Nhưng để hiểu đầy đủ ý nghĩa của trận đánh, không thể chỉ nhìn vào những con số.

Đó còn là những pháo thủ kiên trì bên trận địa, những chiến sĩ bộ binh đối mặt với xe tăng trên cát trắng, những người lái xe cơ giới vượt sông trong đêm và những người lính làm nhiệm vụ cứu chữa, đưa đồng đội ra khỏi vùng nguy hiểm.

Trong lời kể của Đại tá Bùi Quang Thắng, ký ức về sự hy sinh của đồng đội vẫn hiện lên sâu sắc dù nhiều thập niên đã trôi qua.

Những người lính ấy đã chiến đấu trong thời khắc đặc biệt của lịch sử dân tộc. Có người được chứng kiến ngày hòa bình đến gần. Có người mãi mãi nằm lại trước khi đất nước thực sự thống nhất.

Trận Cửa Việt tháng Giêng năm 1973 vì vậy không chỉ phản ánh một thắng lợi quân sự. Nó còn nhắc nhớ rằng từ việc ký kết một hiệp định hòa bình đến khi tiếng súng thực sự chấm dứt là cả một chặng đường đầy thử thách.

The Victory at Cua Viet: From Historical Memory to Today's Responsibility

Ảnh 3. Tượng đài Chiến thắng Cửa Việt, nơi tưởng nhớ những người đã chiến đấu, hy sinh trên chiến trường Cửa Việt. Ảnh minh họa di tích lịch sử.

Hòa bình được viết nên bằng những hy sinh

Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ những ngày tháng Giêng năm 1973. Cửa Việt hôm nay là vùng cửa biển gắn với cuộc sống lao động, giao thương và những nhịp sống thanh bình.

Nhưng trong lịch sử Quảng Trị, trận chiến cuối tháng Giêng năm ấy vẫn là một dấu mốc đặc biệt.

Ngày 27/1, Hiệp định Paris được ký kết. Ngày 28/1, lệnh ngừng bắn bắt đầu có hiệu lực. Đến ngày 31/1, những người lính trên chiến trường Cửa Việt mới kết thúc trận phản công quyết định.

Ba mốc thời gian ngắn ngủi ấy chứa đựng biết bao mất mát, ý chí và khát vọng.

Nhắc lại trận Cửa Việt không phải để kéo dài ký ức đau thương, mà để hiểu sâu sắc hơn giá trị của hòa bình. Bởi hòa bình không chỉ hiện diện trong những văn kiện được ký kết, mà còn trong cuộc sống bình yên của nhân dân và trong sự ghi nhớ những người đã hy sinh để bảo vệ quê hương.

Trên vùng đất nơi sông Thạch Hãn hòa vào biển lớn, câu chuyện về những người lính tháng Giêng năm 1973 vẫn còn nguyên sức lay động.

Họ đã chiến đấu khi hòa bình đang đến rất gần. Và chính những mất mát ấy nhắc các thế hệ hôm nay biết trân trọng hơn từng ngày đất nước không còn tiếng súng.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn