Bài viết

Tháng năm rực lửa

Dù thời gian đã lùi xa hơn 50 năm, dù ký ức có thể chìm đi giữa trăm vạn điều thường nhật thì chỉ cần chạm tới, nó bỗng tuôn chảy. Rồi bà nói mà như tự sự với chính mình...

Thái Nguyên17/07/2026Mầm non Bàn Đạt (Đoàn xã Tan Khánh)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tháng năm rực lửa

Tác giả: Thu Thủy

Sau mấy lần hẹn, chúng tôi mới gặp được Đại tá, nhà văn Vũ Thị Hồng trong một buổi chiều tháng 5-2026. Căn hộ chung cư bên sông Hồng với tầm nhìn thoáng rộng quả là lý tưởng để bà tiếp tục cho ra đời những tác phẩm mang đậm dấu ấn của một nữ nhà văn-nhà báo có những tháng năm rực lửa ở chiến trường.

Khi biết tôi cũng từng tốt nghiệp cùng chuyên ngành, sau bà đúng 35 năm, nhà văn Vũ Thị Hồng liền hỏi tôi muốn nghe chuyện của bà bắt đầu từ đâu? Tôi hỏi ngay, vì sao một người con gái nhỏ nhắn với sức vóc yếu ớt đang học năm thứ ba Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội lại sẵn sàng cắt mái tóc của mình, tình nguyện đăng ký vào tuyến lửa? Sức mạnh nào đã khiến một nữ phóng viên chiến trường sẵn sàng xông pha, đến những nơi nguy hiểm nhất, cùng ăn, cùng ở, cùng chiến đấu với bộ đội?

Nhà văn Vũ Thị Hồng (ngoài cùng, bên trái) cùng đồng đội ở chiến trường.

Dù thời gian đã lùi xa hơn 50 năm, dù ký ức có thể chìm đi giữa trăm vạn điều thường nhật thì chỉ cần chạm tới, nó bỗng tuôn chảy. Rồi bà nói mà như tự sự với chính mình...

Có lẽ trong 4 nữ sinh Văn khoa khóa 11, 12 quyết tâm vào chiến trường năm ấy thì ngoài ý chí, trách nhiệm của những thanh niên yêu nước, bản thân Vũ Thị Hồng còn một lý do đặc biệt khác, liên quan đến dấu ấn đau thương nhất cuộc đời bà. Đó chính là sự ra đi bất ngờ của người cha khi đang họp cùng đồng nghiệp thì bị máy bay Mỹ ném bom tại số 140 Phố Huế (Hà Nội) năm 1967. Vì sự mất mát vô bờ ấy mà 6 anh chị em trong nhà phải chịu cảnh côi cút, ly tán khắp nơi, mãi khi đất nước hòa bình mới lại về chung tổ ấm.

Trước khi đi B, bà bị phát hiện mắt viêm màng bồ đào, thị lực giảm còn 2/10, phải ở lại bệnh viện điều trị. Nhưng bà đã trốn viện lên đường. Ngày 16-4-1970, Vũ Thị Hồng với bí danh Nguyễn Thị Bắc Hà và đồng đội bắt đầu hành quân. Từ Hà Nội, họ được đi xe đến Nghệ An, còn lại hành quân bộ để vào chiến trường. Thử thách đầu tiên chính là cơn sốt rét ác tính bất ngờ ập đến khiến bà không thể theo kịp đoàn mà phải nằm lại trạm giao liên điều trị. Sau này, trước sức tàn phá của chốn rừng thiêng nước độc, bom đạn chiến tranh, người con gái trẻ đang độ rực rỡ nhất của tuổi xuân thì còn chịu nhiều mất mát, thương tổn khiến tóc rụng gần hết, thân hình gầy yếu với rất nhiều vết thương trên cơ thể. Bà là thương binh hạng 4/4 và đến giờ di chứng vết thương chiến tranh vẫn hành hạ mỗi khi trái gió trở trời. Nhưng dù vậy, chưa bao giờ những khó khăn, nguy hiểm ấy cản được bước chân và ý chí lăn xả nơi chiến trận của bà.

Vào chiến trường, phóng viên Bắc Hà được phân công về Ban Văn học rồi Tạp chí Văn nghệ Quân Giải phóng Trung Trung Bộ. Dù trước đó đã được đào tạo 3 tháng về nghiệp vụ viết văn, làm báo, nhưng việc đầu tiên bà được giao đảm nhiệm lại là đi... làm rẫy. Người con gái Hà Nội chưa từng phải đụng đến việc chân tay đã không nề hà trước bất cứ công việc gì suốt hai tháng.

Nhà văn Vũ Thị Hồng (ngoài cùng, bên phải) thăm lại chiến trường xưa. Ảnh do nhân vật cung cấp

Sau những tháng ngày lao động và chỉ loanh quanh ở cơ quan, bà đã quyết định xin đi thực tế tại các đơn vị chiến đấu. Nói về quyết định này, bà vẫn nhớ mãi lời chỉ dạy ân cần của Tư lệnh Quân khu 5 Chu Huy Mân khi ấy: Muốn viết trước tiên hãy là một người lính, sống như một người lính đã!

Lời khuyên ấy theo bà suốt các chặng đường chiến dịch và bám sát bộ đội sau này. Không thể kể hết những khó khăn của một cô gái mới ngoài 20 tuổi khi phải sinh hoạt giữa những người lính khác giới cùng độ tuổi. Trước hết là sự lo ngại khi người ta chưa tin một cô gái Hà Nội chân yếu tay mềm vào đây để làm gì, sẽ viết gì về họ hay giúp được gì cho cuộc chiến này? Phóng viên Nguyễn Thị Bắc Hà khi ấy đã sống bằng tất cả sự chân tình và nhiệt thành của tuổi trẻ. Gắn bó với bộ đội từ những sinh hoạt hằng ngày, cùng ăn, cùng ở, cùng đào hầm, cùng đi gùi gạo hàng chục ki-lô-mét, cùng hành quân, cùng đi an táng tử sĩ, dũng cảm chiến đấu khi gặp địch...

Bà không nhớ đã bao lần vượt qua lằn ranh sinh tử trong những lần “giáp lá cà” với địch, khi bị bom vùi, hay vượt chốt ngay trước mũi súng của kẻ thù. Giữa làn đạn pháo cối, nữ nhà báo hông đeo súng lục, vai khoác súng AK vẫn hiên ngang không chịu lùi bước. Rồi lần bị thương khi đang đi vào vùng dân cư nắm tình hình thì bị địch ném bom. Mảnh bom sượt qua cánh tay, may mắn không gãy xương nhưng vết thương khá sâu. Được đồng đội đưa vào trạm phẫu, bà nhường cho các anh em bị thương nặng phẫu thuật trước. Chiều hôm sau mới đến lượt. Vết thương đã khiến bà phải “khâu sống” 12 mũi vì hết thuốc tê.

“Phần lớn thời gian chúng tôi hành quân liên miên và chiến đấu với kẻ thù. Có những đợt 10 đêm hành quân liên tục, còn ban ngày có khi tôi ngủ gật bên vũng nước. Có khi ngồi viết trong tiếng bom cày đạn réo, thấy địch bắn ở ngay xóm bên kia. Chủ yếu là viết phóng sự, đưa tin số liệu chiến trường và tường thuật trận đánh. Khi có những khoảng lặng dài hơn, tôi dùng chất liệu đó viết truyện ký”, nhà văn Vũ Thị Hồng kể.

Cho đến giờ, nhà văn Vũ Thị Hồng vẫn nhớ kỷ niệm đau thương về người thầy, người anh, người đồng nghiệp gắn với bài báo đầu tiên của bà. Đó là phóng viên Báo Quân Giải phóng Khu 5 Nguyễn Văn Luyện. Người đã dạy bà từ cách bám nắm đơn vị đến cách lấy tư liệu về trận đánh. Bắc Hà lên tuyến trước, trực tiếp khai thác số liệu, anh Luyện ở tuyến sau qua điện thoại ghi chép lại số liệu cô vừa lấy. Hết chiến dịch thì bài báo đầu tiên-bài phóng sự chung của hai người cũng ra đời. Người anh, người thầy ấy vẫn đang hừng hực ý chí đi và viết cùng lời hẹn: “Sắp tới có nhiều trận đánh mới, anh em mình sẽ còn rất nhiều chất liệu để viết...” thì đột ngột hy sinh ngay trên đường hành quân vì một mảnh bom phạt ngang người. Sau này bà được đồng đội kể lại thì mới biết vì chính bà cũng bị vùi lấp bởi trận bom ấy, nhưng may mắn được đồng đội cứu lên kịp thời.

Những đau thương ấy càng rèn thêm ý chí, mài sắc bản lĩnh của nữ phóng viên trẻ. Suốt từ năm 1970 đến 1975, Bắc Hà đã xin đi khắp các chiến trường từ Kon Tum, Quảng Nam, Quảng Ngãi đến Bình Định... hành quân và chiến đấu như những người lính thực thụ, không ngại xông pha trước bất cứ trận đánh nào. Hòa bình lập lại, bà về công tác tại Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, sau đó là Ban Phụ nữ Quân đội. Những năm tháng tác nghiệp tại chiến trường là chất liệu để sau này bà cho ra đời nhiều sáng tác gây ấn tượng với độc giả, như các tập truyện ngắn: “Xóm biển”, “Tiếng rừng”, “Có một thời yêu”; tiểu thuyết “Trở lại là em”... Năm 2024, ở tuổi 74, bà tiếp tục cho ra mắt truyện ký “Chạm vào ký ức” về một thời hoa lửa ở chiến trường. Ngoài một số giải thưởng của Bộ Công an, Bộ Nội vụ, nhà văn Vũ Thị Hồng còn 2 lần được tặng Giải thưởng Văn học, nghệ thuật, báo chí về đề tài LLVT và chiến tranh cách mạng (1990-1995 và 2020-2025)...

******************************************************

Khúc tráng ca của người anh hùng chuyển thương

Tác giả: Trà My

Nhận nhiệm vụ vận chuyển thương binh trên tuyến đường Trường Sơn, đồng chí Hồ Sỹ Tư thoăn thoắt lao đi trong mưa bom, bão đạn để cùng đồng đội đưa thương binh đến nơi an toàn.

Những ngày ấy cách đây đã gần 60 năm, nhưng vẫn còn vẹn nguyên trong ký ức của Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Hồ Sỹ Tư (81 tuổi), ở xóm Xuân Sơn, xã Đại Huệ, tỉnh Nghệ An.

Dù tuổi đã cao, người anh hùng vẫn đầy sôi nổi và hào sảng khi kể lại những năm tháng tuổi trẻ trên tuyến đường Trường Sơn rực lửa, thoăn thoắt lao đi giữa bom đạn kẻ thù để đưa đồng đội đến nơi an toàn.

Năm 1963, chàng thanh niên Hồ Sỹ Tư hăng hái lên đường bảo vệ Tổ quốc. Biết mình gầy gò, nhẹ cân, sợ không đủ điều kiện nhập ngũ nên anh… cố mặc thật nhiều áo cho đủ cân để được thỏa khát vọng cầm súng chiến đấu, góp sức mình cho cuộc kháng chiến giành độc lập của toàn dân tộc. Và rồi Hồ Sỹ Tư đã trúng tuyển vào Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 164, Quân khu 4.

Sau thời gian huấn luyện, Hồ Sỹ Tư được điều về Trung đoàn 71, Đoàn 559, chính thức làm nhiệm vụ trên tuyến lửa Trường Sơn huyền thoại. Từ năm 1967 đến năm 1970, trên cương vị Tiểu đội trưởng Tiểu đội chuyển thương, Trạm Giao liên 73, Tiểu đoàn 16, Binh trạm 37, Đoàn 559, Thượng sĩ Hồ Sỹ Tư đảm nhiệm vận chuyển thương binh trên tuyến đường Trường Sơn. Dù không trực tiếp đối mặt với kẻ thù, nhưng nhiệm vụ này vẫn đầy gian khổ và mỗi chuyến đi đều phải đối mặt với muôn vàn hiểm nguy. Hồ Sỹ Tư cũng chẳng hề nghĩ đến việc bị thương hay thậm chí hy sinh, mà cứ có nhiệm vụ là người tiểu đội trưởng lại cùng đồng đội băng qua lửa đạn để chuyển thương binh về tuyến sau cứu chữa nhanh nhất.

Có lần, máy bay địch bất ngờ trút bom xuống khu vực Binh trạm 37 đang hoạt động trên địa bàn Attapeu của nước bạn Lào, chẳng quản hiểm nguy đến tính mạng, Thượng sĩ Hồ Sỹ Tư cùng đồng đội liên tục lao vào trận địa đưa thương binh thoát khỏi trận bom. Lần ấy, một mình ông đã đưa 4 thương binh đến nơi an toàn.

Khúc tráng ca của người anh hùng chuyển thương Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Hồ Sỹ Tư (ở giữa) với chiếc ăng-gô một thời gắn bó trên tuyến lửa Trường Sơn.

Từ những lần chuyển thương, có lần phải đi cả quãng đường hơn 20km, 3-4 người thay nhau khiêng, Thượng sĩ Hồ Sỹ Tư thấy vừa tốn nhân lực, mất nhiều thời gian nên đề xuất sử dụng xe thồ để vận chuyển thương binh khi điều kiện thời tiết và địa hình cho phép. Sáng kiến ấy được cấp trên chấp nhận và mang lại nhiều hiệu quả.

Đường Trường Sơn là tuyến đường bị địch đánh phá ác liệt, gần như suốt ngày đêm nên Hồ Sỹ Tư và đồng đội gần như không được nghỉ. Bất chấp những cung đường dài, đèo cao, suối sâu, giữa lúc máy bay địch liên tục quần thảo, trút bom, ông vẫn bền bỉ cùng đồng đội chuyển thương. Có những chặng đường hiểm trở, ông chủ động nhận cáng một đầu, miệt mài vượt dốc suốt nhiều giờ liền để đưa đồng đội bị thương đến nơi an toàn. Mỗi năm, tổ của ông vận chuyển hàng trăm lượt thương binh về tuyến sau, góp phần bảo toàn lực lượng và phục vụ kịp thời cho chiến trường. Nhiều đêm, khi trạm giao liên bạn báo có thương binh cần chuyển gấp, ông lại động viên và cùng anh em lên đường ngay. Có những chuyến đi từ chập tối đến sáng, trở về đơn vị ai cũng rã rời vì mệt mỏi, Thượng sĩ Hồ Sỹ Tư lại xung phong nấu cháo, chăm sóc, động viên thương binh nặng yên tâm điều trị. “Người lính chuyển thương không chỉ đưa đồng đội vượt qua bom đạn mà còn phải mang đến sự sẻ chia, tiếp thêm niềm tin để họ vượt qua đau đớn”, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Hồ Sỹ Tư nhớ lại nhiệm vụ.

Không chỉ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chuyển thương, Thượng sĩ Hồ Sỹ Tư còn luôn gương mẫu trong mọi công việc chung của đơn vị. Khi Trạm Giao liên 73 được giao nhiệm vụ mở khẩn cấp 15km đường nhưng thiếu nhân lực, sau mỗi chuyến chuyển thương, ông động viên và cùng anh em tranh thủ làm thêm giờ. Nhờ tinh thần đoàn kết và quyết tâm cao, công trình hoàn thành sớm hơn kế hoạch 5 ngày, góp phần bảo đảm giao thông thông suốt trên tuyến vận tải chiến lược.

Trong một đợt mưa to, Thượng sĩ Hồ Sỹ Tư thấy Binh trạm 37 đóng quân ở vùng trũng thấp, lương thực, thực phẩm có nguy cơ bị ngập nên chủ động đề xuất và cùng đồng đội chặt cây gia cố, làm sàn kho chứa gạo cao hơn. Nhờ sự nhanh nhạy ấy, hàng chục tấn gạo được bảo vệ an toàn, bảo đảm nguồn hậu cần phục vụ chiến đấu...

Ghi nhận những thành tích đặc biệt xuất sắc trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu, đồng chí Hồ Sỹ Tư đã được tặng thưởng 3 Huân chương Chiến công Hạng Ba, 4 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ Quyết thắng. Đặc biệt, ngày 1-10-1971, đồng chí vinh dự được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Năm 1987, sau nhiều năm công tác trong Quân đội, đồng chí Hồ Sỹ Tư hoàn thành nhiệm vụ trở về quê hương. Rời quân ngũ nhưng không rời trách nhiệm, đồng chí tiếp tục cống hiến cho địa phương. Dù ở cương vị nào, đồng chí cũng tận tụy, gương mẫu, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, góp phần xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, phát triển các phong trào thi đua yêu nước và giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn