THÀNH LẬP XÃ ĐĂK KÔI, ĐẢNG BỘ XÃ LÃNH ĐẠO NHÂN DÂN KHÔI PHỤC VÀ ĐẨY MẠNH SẢN XUẤT, ỔN ĐỊNH ĐỜI SỐNG (1976-1980).
THÀNH LẬP XÃ ĐĂK KÔI, ĐẢNG BỘ XÃ LÃNH ĐẠO NHÂN DÂN KHÔI PHỤC VÀ ĐẨY MẠNH SẢN XUẤT, ỔN ĐỊNH ĐỜI SỐNG (1976-1980).
Cuộc tổng tiến công mùa xuân năm 1975 với đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử thắng lợi đã kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta. Đất nước hoàn toàn thống nhất, cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới, giai đoạn cả nước độc lập, thống nhất đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Ngày 29 tháng 9 năm 1975, Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa III) họp Hội nghị lần thứ 24 ra Nghị quyết về nhiệm vụ của Cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới “ Hoàn thành thống nhất nước nhà, đưa cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội, miền Bắc phải tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; miền Nam phải đồng thời tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội”.
Cuối năm 1975, thực hiện Nghị quyết 24 của Ban chấp hành Trung ương Đảng, và Nghị quyết 245 ( tháng 8-1975) của Bộ Chính trị, hai tỉnh Gia Lai và Kon Tum hợp nhất lại thành một tỉnh lấy tên gọi là tỉnh Gia Lai-Kon Tum. Cũng theo chủ trương đó, các huyện trong tỉnh cũng có sự sáp nhập. Hai huyện H16 (Kon Prai) và H29 ( Kon Plong) hợp nhất lại thành một huyện lấy tên gọi là huyện Kon Plong.
Triển khai các nghị quyết của Trung ương, Tỉnh ủy và Huyện ủy, tháng 02-1976, hai xã Đăk Sót và Đăk Pia nhập lại thành 01 xã lấy tên gọi là xã Đăk Kôi. Xã Đăk Kôi khi thành lập có diện tích 326,277 Km2,, có 10 thôn, dân số tương đương 1000 người,
Sau khi thành lập xã, Huyện ủy Kon Plong cũng đã ra quyết định thành lập Đảng bộ xã Đăk Kôi trên cơ sở hợp nhất các tổ chức cơ sở Đảng của hai xã Đăk Sót và Đăk Pia trước đó, Đảng bộ có 48 đảng viên, trong đó có 9 đồng chí nữ. Ban Chấp hành lâm thời Đảng bộ xã Đăk Kôi do đồng chí A Giá làm Bí thư. Bộ máy chính quyền và các tổ chức đoàn thể cũng nhanh chóng được sáp nhập, kiện toàn. Sau khi ổn định bộ máy tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể xã, Đảng bộ xã Đắk Kôi lãnh đạo nhân dân trên địa bàn xã cùng nhân dân trong huyện, trong tỉnh và cả nước bắt tay vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trong hòa bình thống nhất. Trong đó tập trung vào nhiệm vụ trọng tâm cấp bách trước mắt là khôi phục và ổn định sản xuất, nhất là sản xuất nông nghiệp, nhanh chống tạo ra nguồn lương thực tại chỗ để giải quyết nạn đói giáp hạt, phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm để tăng lương thực thực phẩm, đáp ứng nhu cầu của nhân dân. Tổ chức lại sản xuất, tập trung cải tạo, xây dựng, nâng cấp các công trình giao thông thủy lợi, đảm bảo chủ động nguồn nước tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp.
Đảng bộ và nhân dân Đắk Kôi tiến hành công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trong điều kiện hòa bình, có nhiều thuận lợi căn bản, song cũng còn phải đối mặt với nhiều khó khăn thách thức. Kinh tế trên địa bàn xã vẫn còn thô sơ, lạc hậu, Sản xuất nông nghiệp kém phát triển, phần lớn phụ thuộc vào thiên nhiên. Canh tác nương rẫy vẫn giữ vị trí chủ đạo, ruộng nước ít, chỉ tập trung ở vùng thấp dọc theo sông Đăk Kôi,. Việc trồng và phát triển cây công nghiệp chưa có nghiên cứu và quy hoạch… hiểu biết của đội ngũ cán bộ xã về quản lý phát triển kinh tế còn rất thấp, phần lớn dựa vào kinh nghiệm, chưa qua các trường lớp đào tạo, chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới. Để khắc phục khó khăn và vươn lên giành thắng lợi trong giai đoạn cách mạng mới, Đảng bộ và nhân dân Đăk Kôi rất cần sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Huyện ủy Kon Plong, các cấp ngành chức năng, sự nỗ lực của toàn Đảng bộ, chính quyền và nhân dân trong xã tiếp tục nêu cao tinh thần đoàn kết vượt qua những trở ngại thách thức trên con đường xây dựng và phát triển quê hương.
Nhằm tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của địa phương trong giai đoạn cách mạng mới, cuối năm 1976, Đảng bộ xã Đăk Kôi đã quán triệt và triển khai các nhiệm vụ theo tinh thần Hội nghị lần thứ nhất Đảng bộ huyện Kon Plong, với nhiệm vụ trọng tâm tập trung vào việc khai hoang, xây dựng cánh đồng làm thủy lợi. Thực hiện cuộc vận động xuống nà, ra ruộng, định canh định cư khai hoang đất ruộng.
Trong chiến dịch khai hoang phục hóa “ 23000 ha trong 100 ngày” do Tỉnh ủy phát động, xã Đăk Kôi được huyện ủy chọn là 1 trong 6 điểm định canh để tập trung khai hoang phục hóa. Theo chỉ đạo chung, xã đã thành lập một đội chuyên trách làm nhiệm vụ khai hoang. Trong năm 1976 với hào khí thắng lợi của niềm vui đại thắng cùng với tinh thần khẩn trương tích cực, sự nỗ lực của toàn quân dân trong xã đã khai hoang được 23 ha ( chủ yếu là diện tích lúa rẫy và lúa nước), định canh được 16 hộ.
Gắn nhiệm vụ khai hoang với định canh định cư, Đảng bộ đã lãnh đạo chính quyền triển khai nhiệm vụ vận động quần chúng nhân dân từ vùng cao xuống vùng thấp, sử dụng diện tích khai hoang ở vùng đất thấp, tương đối bằng để làm ruộng thực hiện cuộc sống định cư lâu dài. Chỉ trong hai năm 1976-1977, đã hình thành thêm được nhiều điểm định canh mới, hình thành thêm nhiều cánh đồng dọc theo tuyến giao thông gắn với dòng chảy của sông Đăk Kôi.
Tháng 12 năm 1976, Đảng bộ xã Đắk Kôi tổ chức Đại hội nhiệm kỳ VII tại Hội trường Ủy ban nhân dân xã. Đại hội đề ra phương hướng: Phải tiếp tục đẩy mạnh khai hoang xây dựng cánh dựng đồng, định canh định cư, ổn định đời sống, ổn định sản suất, củng cố hợp tác xã, phát triển nông nghiệp, tích cực phát triển chăn nuôi; Đồng thời, đại hội đề ra những nhiệm vụ và chỉ tiêu phát triển kinh tế, văn hóa xã hội, phát triển giao thông vận tải. Đại hội xác định tầm quan trọng của công tác xây dựng Đảng, phải làm tốt công tác chính trị tư tưởng, thực hiện tốt các quy định của Đảng đối với tổ chức cơ sở đảng và đảng viên. Chú trọng công tác củng cố chính quyền và các đoàn thể quần chúng, xem đó là nhiệm vụ quan trọng có tác dụng quyết định đến việc hoàn thành nhiệm vụ xây dựng kinh tế và các nhiệm vụ khác trong công cuộc cách mạng ở địa phương.
Đại hội quán triệt chỉ thị số 208-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng và Nghị quyết số 61/NQ-CP của Hội đồng Chính phủ “về tổ chức lại sản xuất và cải tiến một bước công tác quản lý nông nghiệp cơ sở” và kế hoạch hợp nhất hợp tác xã nông nghiệp toàn xã.
Đại hội bầu Ban Chấp hành Đảng bộ gồm 9 ủy viên, Ban Thường vụ gồm 03 ủy viên. Đồng chí A Vùng được bầu làm Bí thư Đảng ủy, đồng chí A Vi được bầu làm phó bí thư Đảng ủy, giữ chức chủ tịch Ủy ban nhân dân xã..
Thực hiện chủ trương của Đảng, Chính phủ và kế hoạch của Tỉnh ủy, Huyện ủy về tổ chức lại sản xuất theo hướng sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, Đảng bộ xã lãnh đạo tiến hành chia đội làm hợp tác xã. Toàn xã chia làm 3 đội: Đội 1 (gồm các thôn 1+ thôn 2), Đội 2 ( thôn 3+ thôn5 + thôn 6), Đội 3 (thôn 4 + thôn7 + thôn 8 + thôn 10). Nhờ có truyền thống đoàn kết trong sản xuất với phong trào hợp tác tương trợ lao động trong kháng chiến chống Mỹ, việc tổ chức các đội, hợp tác xã làm lúa nước trên địa bàn xã Đăk Kôi diễn ra khá thuận lợi. Ngay sau khi thành lập, hợp tác xã phát huy được truyền thống đoàn kết, cán bộ, đảng viên và nhân dân chung sức, chung lòng xây dựng hợp tác xã với mong muốn xây dựng quê hương phát triển lâm, nông nghiệp toàn diện, cơ cấu kinh tế phù hợp, người dân có đời sống vật chất và tinh thần phong phú.
Cùng với việc thành lập các đội, hợp tác xã, Đảng ủy chỉ đạo thực hiện quyết định của Huyện ủy về việc thành lập chi bộ theo đơn vị sản xuất, các ngành. Đảng bộ xã có 03 chi bộ ( gắn sự lãnh đạo với 3 đội sản xuất). Các tổ chức hội phụ nữ, đoàn thanh niên được tổ chức lại theo đơn vị sản xuất mới.
Việc tổ chức mô hình các đội làm hợp tác xã đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc tập trung vốn, tư liệu sản xuất, nhân lực để tăng vụ và khai hoang. Tuy nhiên, do địa hình chia cắt, phức tạp, giao thông đi lại khó khăn, nhiều thiên tai, thời tiết khắc nghiệt, kinh nghiệm và trình độ quản lý của cán bộ còn thiếu nên đã ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động của hợp tác xã.
Nhằm khắc phục khó khăn trong cơ chế quản lý điều hành sản xuất nông nghiệp, đầu năm 1977, thực hiện sự chỉ đạo của Đảng ủy, hợp tác xã nông nghiệp Đắk Kôi đã xây dựng và thông qua phương thức sản xuất, kế hoạch phân chia điều chỉnh lại ruộng, đất rừng, nương rẫy, công cụ lao động và một số tài sản khác của xã viên hợp tác xã. Đồng thời, Hợp tác xã phát động phong trào thi đua xây dựng chủ nghĩa xã hội, tiến quân mạnh mẽ vào chiến dịch khai hoang xây dựng cánh đồng làm thủy lợi trên khắp địa bàn.
Nhằm lãnh đạo thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế-xã hội trong năm 1977, Đảng bộ phát động phong trào thi đua lao động sản xuất, làm thủy lợi, xây dựng trụ sở, nhà kho, sân phơi tập trung hợp tác xã. Năm 1977, xã được huyện đầu tư tiền vốn tiến hành xây dựng một số công trình thủy lợi nhỏ để phục vụ tưới cho số diện tích lúa nước có sẵn. Các ban ngành, đoàn thể xã và hợp tác xã nông nghiệp tiến hành làm thủy lợi, huy động và vận động hội viên và nhân dân thường xuyên đào mương đắp đập, dẫn nước tưới cho đồng ruộng, làm phân xanh, triển khai áp dụng khoa học kỹ thuật mới trong sản xuất. Cùng với thủy lợi, các giống cây trồng mới cũng được đưa vào sản xuất; ngoài cây lúa là cây trồng chính, Hợp tác xã Đắk Kôi trồng các cây hoa màu và cây công nghiệp. Lần đầu tiên sau giải phóng, trên địa bàn xã bắt đầu trồng các loại cây công nghiệp mới như Bời lời, cà phê, đào lộn hột…Với lợi thế về đất đai và địa hình, Đảng bộ xã đã chỉ đạo việc trồng các loại cây hoa màu ngắn hạn như sắn, khoai lang, các loài đậu…..
Chăn nuôi cũng được hợp tác xã quan tâm phát triển. Được huyện cử cán bộ về hướng dẫn kỹ thuật, xã đã triển khai áp dụng việc chăn nuôi một số loại gia súc gia cầm theo phương pháp khoa học, nhất là chăn nuôi một số giống lợn mới, từng bước hạn chế và khắc phục dần tình trạng nuôi thả rông trong rừng, dưới sàn nhà. Bước đầu chăn nuôi đã có sự tổ chức quản lý theo mô hình tập trung hợp tác xã.
Nhờ bước đầu triển khai việc đưa các giống cây trồng vật nuôi có năng suất cao vào sản xuất, áp dụng khoa học kỹ thuật, chú trọng công tác thủy lợi nên năm 1976, diện tích lúa đạt khá. Bên cạnh trồng trọt, chăn nuôi cũng có bước phát triển, đàn trâu, bò, đàn lợn lên tới hàng nghìn con. Hàng năm, xã Đắk Kôi đều có bán lợn cho Nhà nước.
Trong năm 1977, Đảng bộ lãnh đạo toàn xã phát động và hưởng ứng mạnh mẽ phong trào toàn Đảng, toàn quân, toàn dân làm công tác thủy lợi. Xã được huyện quan tâm đầu tư xây dựng mới công trình thủy lợi Đăk Kôi, Đảng bộ lãnh đạo các cấp các ngành tổ chức vận động và huy động nhân dân thường xuyên nạo vét kênh mương, bảo dưỡng các công trình thủy lợi đã có.
Năm 1978, được sự giúp đỡ của huyện, sự nỗ lực của Đảng bộ và nhân dân toàn xã, nhiều cánh đồng lúa nước được hình thành mới trên địa bàn, góp phần đáng kể vào tăng sản lượng lương thực, giảm dần tình trạng phụ thuộc vào sản xuất nương rẫy, bước đầu giải quyết tình trạng đói giáp hạt diễn ra hàng năm.
Hoạt động của các ngành kinh tế khác cũng có sự quan tâm, trong năm 19771 xã được huyện đầu tư vốn cùng với phát động phong trào quần chúng làm giao thông đã làm mới được 14 km đường, tuyến đường giao thông huyết mạch nối huyện với Quốc lộ 24 luôn được thường xuyên duy tu, bảo dưỡng. Xã đã thành lập được các tổ mua bán cố định thực hiện việc thu mua nông lâm sản của nhân dân và bán phân phối các mặt hàng của nhà nước, kể cả hàng cứu trợ cho đồng bào dân tộc bản địa. Đáng chú ý là hoạt động của lò rèn tại xã hoạt động khá tốt, với truyền thống và kinh nghiệm nghề rèn của đồng bào xê đăng bản địa được truyền lưu qua bao đời, lò rèn tại xã đã sản xuất được các nông cụ cày, bừa, cuốc rựa, niếc đủ dùng để phục vụ sản xuất.
Bước vào năm 1980, Đảng bộ Đắk Kôi lãnh đạo nhân dân một mặt phấn đấu đẩy mạnh sản xuất sau những năm tập trung khai hoang, xây dựng cánh đồng, mặt khác phải khắc phục những hạn chế, bất cập nảy sinh trong thực tế khi triển khai các nhiệm vụ kinh tế - xã hội trong tình hình mới. Đảng bộ tăng cường lãnh đạo củng cố hợp tác xã, quản lý kinh tế, kiên quyết sửa chữa những khuyết điểm, hạn chế tồn động qua các năm trước đó.
Trong giai đoạn này, công tác văn hóa, xã hội cũng được Đảng ủy chú trọng lãnh đạo, chỉ đạo. Trong hai năm 1976-1977, Đảng ủy chỉ đạo triển khai Chỉ thị của Huyện ủy về xóa mù chữ, và bổ túc văn hóa cho cán bộ, đảng viên và nhân dân trong xã, gắn với thực hiện chương trình “ làm tốt việc chăm sóc và giáo dục thế hệ trẻ ngay từ tuổi thơ ấu đến tuổi trưởng thành” do Bộ Chính trị phát động. Thực hiện chỉ thị và Chương trình trên, xã Đắk Kôi nỗ lực khắc phục những khó khăn về cơ sở vật chất của trường học để đảm bảo kế hoạch giáo dục từng năm học. Mặc dù cơ sở vật chất phục vụ việc dạy và học còn khó khăn nhưng hàng năm vẫn vận động và huy động được học sinh đến lớp. Xã còn tiến hành phổ cập bổ túc văn hóa cấp I cho một số cán bộ xã, cán bộ quản lý hợp tác xã và các đoàn thể. Các hoạt động văn hóa thông tin được đẩy mạnh. Được sự quan tâm hỗ trợ của Phòng văn hóa - thông thông tin huyện, xã cử người phụ trách và phối hợp trong việc triển khai tuyên truyền giáo dục nếp sống mới, xây dựng con người văn minh, tiến bộ, cải tiến và xóa bỏ dần các hủ tục lạc hậu trong ma chay, cưới hỏi…
Công tác y tế có bước phát triển mới so với trước. Mặc dù cơ sở vật chất phục vụ công tác y tế và cán bộ làm công tác y tế còn thiếu và yếu nhưng được huyện quan tâm đầu tư và hỗ trợ, một số trang thiết bị thiết yếu đã được trang bị, cán bộ làm công tác y tế luôn được bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ, đã làm được nhiệm vụ sơ cứu và khám chữa những bệnh thông thường cho người dân. Đáng chú ý là phong trào làm thuốc nam chữa bệnh và phát huy kinh nghiệm chữa bệnh dân gian của quần chúng luôn được phát huy và nhân rộng. Cán bộ y tế xã thường xuyên vận động nhân dân thực hiện công tác vệ sinh phòng dịch, nhất là bệnh sốt rét do muỗi gây ra.
Công tác an ninh quốc phòng được xác định là nhiệm vụ chính trị thường xuyên của Đảng bộ xã. Trên tinh thần đó, Đảng ủy và chính quyền xã đã quán triệt đến mọi cán bộ, đảng viên về nhiệm vụ “ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” trong tình hình mới. Lực lượng vũ trang xã ( thành phần chính là du kích và dân quân tự vệ) được xác định là lực lượng nòng cốt luôn sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ nhân dân, tham gia cùng nhân dân vận động truy quét Fulro. Ngay trong năm đầu tiên sau giải phóng, tháng 12-1976, trên địa bàn xã, tại làng Tê Rong có 5 phần tử thuộc diện ngụy quân ngụy quyền của chế độ cũ lũng đoạn tư tưởng quần chúng, kéo dân ra sản xuất, làm ăn riêng theo làng, không theo tổ hợp tác, đồng thời tổ chức móc nối với bọn xấu ở xã B (Đăk Tô), các lực lượng chức năng của xã đã kịp thời ngăn chặn và chấn chỉnh. Riêng hai tên Dun ( ấp trưởng) và tên Nusk ( biệt kích cũ) đã ngoan cố đưa toàn bộ gia đình chạy về xã B huyện Đăk Tô1.
Do làm tốt công tác tuyên truyền nên hàng năm các đợt tuyển quân của xã đều đạt và vượt trên mức được giao. Trong những năm 1978-1979, khi chiến tranh biên giới phía Tây Nam của Tổ quốc nổ ra, toàn tỉnh tập trung cho mặt trận biên giới phía tây ở huyện Sa Thầy, Đảng bộ và chính quyền xã Đăk Kôi đã động viên nhân dân toàn xã đóng góp sức người sức của cho tiền tuyến. Khí thế cách mạng mới dấy lên trong toàn Đảng bộ, toàn dân Đắk Kôi hưởng ứng lời kêu gọi của Trung ương Đảng. Với phong trào “Toàn dân đánh giặc” đã tạo nên sức mạnh sôi nổi trong quần chúng. Toàn xã dấy lên khí thế đánh giặc bảo vệ Tổ quốc, đã có hàng chục thanh niên của xã gia nhập lực lượng bộ đội địa phương sẵn sàng chiến đấu.
Để tăng cường giữ gìn an ninh trật tự an toàn xã hội, lực lượng công an xã được thường xuyên củng cố hơn. Phong trào bảo vệ trật tự trị an được phát động rộng rãi trong quần chúng nhân dân nhằm giữ vững an ninh chính trị trên địa bàn. Tổ an ninh nhân dân ở các thôn, làng được thành lập, để bảo vệ và ngăn chặn những hiện tượng vi phạm trật tự trị an và những tệ nạn xã hội như trộm cắp, uống rượu, gây rối ….
Trong công tác Đảng, thực hiện sự chỉ đạo của Huyện ủy và hướng dẫn của các ban, ngành chức năng, Đảng bộ xã đã quán triệt sâu rộng tới đảng viên thực hiện Chỉ thị 192 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về công tác xây dựng Đảng bộ vững mạnh, trong sạch và Thông tri 22 về việc phát thẻ đảng viên. Kết quả, năm 1980, Đảng bộ đã kịp thời tổ chức phát thẻ đảng viên đợt đầu cho nhưng đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ.. Hằng năm, Đảng bộ tổ chức học tập, quán triệt nâng cao về lập trường, tư tưởng, phẩm chất và năng lực cho cán bộ, đảng viên; tổ chức các đợt sinh hoạt chính trị quán triệt nghị quyết, chỉ thị về nếp sống sinh hoạt, giữ gìn kỉ luật của Đảng ủy và cá nhân đảng ủy viên về trách nhiệm, phẩm chất chính trị, năng lực lãnh đạo, tính tiền phong, gương mẫu, đạo đức lối sống. Qua thực tiễn các phong trào cách mạng địa phương, nhất là trước diễn biến phức tạp của tình hình chiến tranh biên giới phía Bắc và Tây Nam, đội ngũ cán bộ, đảng viên trong Đảng bộ đều kiên định, vững vàng, gương mẫu chấp hành chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng.
Trong những năm 1976-1980, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, cán bộ, đảng viên và nhân dân xã Đắk Kôi phát huy truyền thống cách mạng, khí thế chiến thắng, thi đua lao động sản xuất phục hồi sản xuất, xây dựng đời sống đạt đựợc những thành quả hết sức quan trọng. Xã Đăk Kôi vinh dự được Huyện chọn làm xã điểm trong mô hình xây dựng hợp tác xã với quy mô toàn xã và là hình mẫu về công tác định cư, đã làm cho đời sống xã hội nông thôn miền núi vùng sâu, vùng xa có nhiều chuyển biến. Tuy nhiên, do những hạn chế trong mô hình hợp tác xã, nhất là sự bất cập và hạn chế của đội ngũ cán bộ tại địa phương nên hiệu quả kinh tế xã hội nhìn chung chưa được như mong muốn, đời sống nhân dân tuy có phát triển hơn so với thời kỳ kháng chiến nhưng vẫn chưa thoát khỏi đói nghèo. Tuy còn nhiều khó khăn nhưng đất nước hòa bình thống nhất là điều kiện thuận lợi để nhân dân tiếp tục bắt tay vào thực hiện các kế hoạch sản xuất phát triển kinh tế- xã hội trong những năm tiếp theo.
II-THỰC HIỆN KẾ HOẠCH 5 NĂM (1981-1985)
Trong những năm đầu đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, đất nước ta đã giành được những thắng lợi bước đầu hết sức quan trọng, đời sống nhân dân được cải thiện. tuy nhiên, do phải tiến hành cuộc kháng chiến trong nhiều năm, cơ sở vật chất kỹ thuật lạc hậu, đường lối lãnh đạo phát triển kinh tế có những hạn chế nhất định. Do đó đến đầu những năm 80 nền kinh tế nước ta rơi vào khủng hoảng trầm trọng. Cuộc khủng hoảng biểu hiện trên các lĩnh vực như tăng trưởng kinh tế thấp, lạm phát phi mã và kéo dài, cán cân thanh toán bị mất cân đối nghiêm trọng, sản xuất không đáp ứng được nhu cầu, không có tích lũy trong nước và không đủ tiêu dùng, toàn bộ quá trình tích lũy vào một phần quỹ tiêu dùng phải dựa vào viện trợ và vay nợ nước ngoài.
Trước khó khăn trên, Đảng ta nhận thấy phải có sự điều chỉnh trong đường lối, chính sách kinh tế để đưa đất nước ra khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế. Tháng 8 năm 1979 Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 6 (khóa VI) ra Nghị quyết với chủ trương “giải phóng mọi năng lực sản xuất” phải sửa chữa các khuyết điểm trong quản lý kinh tế, quản lý xã hội, nhất là phải đổi mới công tác kế hoạch hóa và cải tiến một cách cơ bản chính sách kinh tế “ làm cho sản xuất bung ra” theo phương hướng kế hoạch của Nhà nước, từ đó dẫn đến những đổi mới cục bộ trong kế hoạch 5 năm 1981-1985.
Trong nông nghiệp, để khắc phục tình trạnh khủng hoảng về mô hình tổ chức sản xuất, ngày 13 tháng 01 năm 1981, Ban Bí thư Trung ương đã ban hành Chỉ thị 100-CT/TW về “ thực hiện chế độ khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm người lao động” (thường gọi là khoáng 100). Nêu rõ mục đích và nguyên tắc khoán. Để thực hiện mục đích đó phải nắm vững phương hướng, chủ yếu là khuyến khích hơn nữa lợi ích chính đáng của người lao động, làm cho mọi người tham gia các khâu trong quá trình sản xuất và quản lý của hợp tác xã thực sự gắn bó với sản phẩm cuối cùng, do đó mà đem hết nhiệt tình và khả năng ra lao động sản xuất, xây dựng và củng cố hợp tác xã…
Thực hiện sự chỉ đạo của đảng bộ cấp trên, Đảng bộ xã Đắk Kôi tổ chức nghiên cứu, quán triệt Chỉ thị 100 trong toàn bộ Đảng bộ và xã viên hợp tác xã nông nghiệp. Sau hội nghị quán triệt, Đảng ủy chỉ đạo hợp tác xã nông nghiệp xây dựng kế hoạch tổ chức thực hiện Chỉ thị 100 và kế hoạch sản xuất trong năm 1981; phương án phòng chống bão lụt, hạn hán, tăng năng suất sản lượng lúa màu và chăn nuôi gia súc gia cầm.
Do có sự đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp, xã viên được giao ruộng khoán, phát huy tính năng động, tự chủ trong sản xuất, tăng cường đầu tư giống, vốn, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, thực hiện 3 khâu (gieo trồng, chăm sóc, thu hoạch). Hợp tác xã tập trung vốn làm dịch vụ vật tư nông nghiệp phục vụ sản xuất, đảm bảo nhận 5 khâu (làm đất, tưới tiêu nước, giống cây trồng vật nuôi, phân bón, bảo vệ thực vật).
Khoán sản phẩm đặt ra nhiều yêu cầu mới, nhất là sự lãnh đạo, chỉ đạo về công tác quản lý hợp tác xã. Do đó, Đảng ủy chú trọng giáo dục, bồi dưỡng cán bộ hợp tác xã nâng cao trình độ công tác quản lý, chấn chỉnh bộ máy điều hành quản lý kinh tế, quản lý sản xuất, tổ chức lao động, từng bước hoàn thiện cơ cấu kinh tế và cơ chế quản lý các hợp tác xã, đổi mới tư duy kinh tế, chống tiêu cực. Từ tình hình thực tế của địa phương, Đảng ủy và chính quyền xã đã có những chủ trương động viên và khuyến khích nhân dân trong đầu tư sản xuất, phát triển chăn nuôi gia súc, tăng nhanh đàn trâu, bò.
Triển khai thực hiện Chỉ thị 100 của Ban Bí thư Trung ương Đảng tại địa phương bước đầu đã làm thay đổi nhận thức và cách nghĩ, cách làm, cách quản lý của cán bộ, đảng viên. Chế độ ghi công điểm, làm phân phối theo điểm bị bãi bỏ. Người lao động giao nộp sản phẩm theo định mức khoán. Người dân nay nhận thấy lợi ích từ việc áp dụng khoán đã xin nhận ruộng khoán.
Hình thức khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động đã khắc phục những hạn chế của các hình thức khoán trong hợp tác xã nông nghiệp trước đây, gắn lợi ích của người lao động với sản phẩm cuối cùng đã khuyến khích người nông dân tích cực đầu tư phát triển sản xuất. Sản xuất nông nghiệp của xã có sự chuyển đổi và từng bước phát triển. Năm 1981, Hợp tác xã nông nghiệp đã triển khai được tất cả diện tích gieo trồng trên địa bàn. Đàn gia súc gia cầm có bước phát triển hơn trước, đàn lợn tập thể duy trì 50 con, đàn bò 24 con. Đàn lợn hộ gia đình chăn nuôi đạt hơn 10 con.
Thực hiện chỉ thị và kế hoạch đại hội đảng bộ cơ sở của Tỉnh ủy Gia Lai-Kon Tum và Huyện ủy Kon Plong, tháng 5/1982 , Đảng bộ xã Đắk Kôi tổ chức Đại hội lần thứ VIII (nhiệm kỳ 1982-1984) tại hội trường trụ sở Ủy ban nhân dân xã, tham dự Đại hội có 52 đảng viên. Đại hội đánh giá kết quả công tác lãnh đạo chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội nhiệm kỳ (1980-1982), đề ra phương hướng, nhiệm vụ mục tiêu phấn đấu trong thời gian tới. Trên cơ sở đánh giá những thuận lợi và khó khăn của xã trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội, Đại hội đề ra mục tiêu, chỉ tiêu xây dựng phát triển kinh tế-xã hội 3 năm (1982-1984): Tập trung phát triển nông, lâm nghiệp toàn diện, trọng tâm là sản xuất lương thực; khai thác, quản lý và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên của núi rừng, đẩy mạnh chăn nuôi trâu bò, chăn nuôi lợn và đàn gia cầm. Chú trọng phát triển các loại cây công nghiệp phù hợp với thổ nhưỡng địa phương. Xây dựng Đảng bộ, chính quyền và các đoàn thể vững mạnh.
Đại hội bầu Ban Chấp hành Đảng bộ (khóa VIII) gồm 9 ủy viên. Đồng chí A Giá được bầu làm Bí thư Đảng ủy, đồng chí A Vồng được bầu làm Chủ tịch UBND xã..
Triển khai thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng bộ, Đảng ủy chỉ đạo Ủy ban nhân dân xã, Ban quản lý hợp tác xã nông nghiệp, tập trung làm thủy lợi, đẩy mạnh khai hoang, mở rộng diện tích định canh, đẩy mạnh sản xuất, hạn chế dần phương thức canh tác nương rẫy của người dân. Trong 3 năm 1982-1984, Hợp tác xã Đăk Kôi huy động nhân dân làm thủy lợi tu bổ nạo vét kênh mương, bảo dưỡng các công trình thủy lợi đã và đang sử dụng. Đáng chú ý Đập thủy lợi Đăk Kôi do huyện đầu tư xây dựng qua hơn 2 năm thi công đã hoàn thành và đưa vào sử dụng, tạo thêm thuận lợi cho đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp. Nhằm đảm bảo làm tốt công tác thủy lợi, Đảng ủy chỉ đạo hợp tác xã lựa chọn bố trí những thanh niên trai tráng khỏe mạnh làm nòng cốt xung kích trên mặt trận thủy lợi, đảm đương những công việc nặng nhọc quan trọng nhất trong công tác thủy lợi của xã. Hợp tác xã quán triệt đầy đủ hướng dẫn của cán bộ kỷ thuật huyện, mạnh dạn đưa giống lúa cho năng suất cao như Thần nông 8, Thần nông 10 vào gieo trồng hầu hết trên diện tích ruộng nước đang sử dụng. Kết quả, sản xuất nông nghiệp những năm 1982-1985 năm sau cao hơn năm trước. Tuy có tăng trưởng nhưng so với yêu cầu thực tế, năng suất lúa và sản lượng lương thực vẫn còn tăng chậm dẫn đến lương thực màu quy thóc tăng ít, bình quân lương thực và định mức ăn hàng tháng thấp. Đời sống của người dân vẫn còn nhiều khó khăn, thiếu thốn.
Để giảm bớt sự phụ thuộc của nền kinh tế vào sản xuất nông nghiệp, phá thế độc canh của cây lương thực, Đảng ủy chỉ đạo chính quyền lãnh đạo nhân dân tích cực triển khai chủ trương của Huyện ủy về phát triển các loại cây công nghiệp ngắn và dài ngày như: Lạc, bông, thuốc lá, mía, thầu dầu, bời lời,… mở rộng diện tích trồng cây thực phẩm ( rau, đậu các loại…), kết quả thực hiện nhiệm vụ trên đã tạo bước chuyển biến mới trong cơ cấu kinh tế xã nhà. Người dân trên địa bàn xã lâu nay chỉ quen với cây lúa rẫy, lúa ruộng, nay bắt đầu làm quen với các loại cây công nghiệp. Đáng chú ý là các loại cây thực phẩm rất phù hợp với điều kiện vùng đất nà thổ hai bên bờ sông Đăk Kôi, qua một thời gian triển khai đã đem lại hiệu quả khá, đóng góp quan trọng vào tăng sản lượng lương thực của địa phương.
Trong 5 năm ( 1981-1985), Đắk Kôi đóng góp nghĩa vụ cho Nhà nước hằng trăm tấn lương thực ( trong đó, bao gồm các loại nông sản như sắn, lúa, hoa màu các loại.). và hàng chục tấn thịt lợn hơi. Thành quả trên trước hết là do bước đầu thực hiện có hiệu quả cơ chế khoán sản phẩm trong nông nghiệp đến nhóm và người lao động. Tuy chưa hoàn thiện và còn nhiều thiếu sót, song đã tạo ra nhân tố kích thích người lao động gắn bó hơn với sản xuất, gắn bó hơn với đồng ruộng và nương rẫy do mình làm chủ, từ đó đẩy mạnh sản xuất. Thành quả trên còn là sự ghi nhận bước đầu trong thực hiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế, mở rộng và tăng diện tích trồng hoa màu, phát triển cây công nghiệp ngắn và dài ngày.
Tuy quan hệ sản xuất đã thay đổi, có sự chuyển đổi trong cơ cấu kinh tế, nhưng năng suất lao động vẫn còn thấp, tốc độ phát triển sản xuất, cải tiến kỹ thuật còn rất chậm, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển theo Nghị quyết của Đảng đề ra. Phong trào quần chúng rất nhiệt tình với cách mạng, thích nghi rất nhanh với với những biến đổi và yêu cầu của tình hình thực tế địa phương, đòi hỏi công tác lãnh đạo được cải tiến, nhưng trình độ lãnh đạo của Đảng ủy nói chung, đội ngũ cán bộ tại địa phương nói riêng còn chưa tiến kịp, còn yếu kém nhiều mặt. Đảng ủy còn lúng túng về lối làm việc, về lãnh đạo tư tưởng và quản lý hợp tác xã.
Tháng 3 năm 1984., Đảng bộ xã Đắk Kôi tổ chức Đại hội Đảng bộ lần thứ IX, Đại hội đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội trong những năm 1982-1984 và đề ra phương hướng nhiệm vụ lãnh đạo phát triển kinh tế-xã hội trong nhiệm kỳ (1984-1986). Đại hội nhận định: Những năm tiến hành kế hoạch 5 năm (1981-1985), cán bộ, đảng viên và nhân dân Đắk Kôi tích cực lao động sản xuất, giành kết quả quan trọng. Sản xuất nông nghiệp giành đựợc thắng lợi cả về trồng trọt và chăn nuôi. Đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt. Quốc phòng an ninh được giữ vững. Hoạt động văn hóa xã hội được duy trì và có bước phát triển. Bên cạnh việc đánh giá những ưu điểm, Đại hội nghiêm túc kiểm điểm những tồn tại hạn chế cần khắc phục trong nhiệm kỳ tới. Đại hội nêu rõ: Tuy sản xuất phát triển góp phần ổn định đời sống nhân dân song tốc độ tăng trưởng kinh tế vẫn chậm, chưa thật sự ổn định, thiếu tính bền vững, còn mất cân đối giữa trồng trọt và chăn nuôi, năng suất lao động chưa cao, mức sống của người dân còn thấp. Việc xác định cơ cấu kinh tế của xã chưa rõ ràng, người dân tuy vào con đường làm ăn tập thể nhưng vẫn chưa từ bỏ thói quen của phương thức canh tác cá nhân hộ gia đình trên rẫy. Nạn đốt rừng làm rẫy diễn ra thường xuyên quanh năm chưa được ngăn chặn triệt để. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và phát triển đảng viên chưa được chú trọng. Đại hội đề ra phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của xã trong giai đoạn 1984-1986.
Đại hội bầu Ban chấp hành Đảng bộ gồm 5 ủy viên. Đồng chí A Giá tiếp tục tái cử, giữ chức Bí thư Đảng ủy, đồng chí A Tép được bầu giữ chức Chủ tịch UBND xã .
Năm 1985 là năm cuối của kế hoạch 5 năm (1981-1985) phát triển kinh tế-xã hội do Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V (tháng 3/1982) đề ra, là năm đầu tiên thực hiện nghị quyết của đại hội Đảng bộ nhiệm kỳ mới, toàn Đảng bộ và quân dân trong xã tập trung vào triển khai những nhiệm vụ trọng tâm đã được xác định trong nghị quyết của Đảng bộ và chỉ đạo của Huyện ủy. Sản xuất nông nghiệp được đẩy mạnh, để mở rộng diện tích canh tác, Đảng ủy chỉ đạo khảo sát và khai hoang thêm một số vùng ở thượng nguồn sông Đăk Kôi thuộc phía bắc xã. Đến năm 1985, diện tích lúa nước của xã đạt 90 ha, trong đó có 60 ha diện tích ruộng nước 02 vụ, 30 ha nà thổ định canh, cao nhất huyện Kon Plong1 . Việc phát triển hoa màu cũng gặp nhiều thuận lợi, hầu hết vùng đất nà thổ trên địa bàn xã đều thích hợp với tất cả các loại cây hoa màu. Các loại cây công nghiệp đang trong giai đoạn trồng thử nghiệm nhưng cũng đem lại hứa hẹn tốt.
Các hoạt động văn hóa xã hội được duy trì và phát triển. Sự nghiệp giáo dục của xã tiếp tục đạt được những kết quả quan trọng. Trường Phổ thông cấp I vẫn duy trì bình thường việc dạy học. Đảng ủy chỉ đạo các đoàn thể tích cực vận động các hộ gia định tạo mọi điều kiện thuận lợi cho trẻ em đến trường. Đã có nhiều em học sinh của xã hoàn thành chương trình bậc tiểu học về theo học phổ thông cấp II tại trường dân tộc nội trú huyện. Cơ sở vật chất trường lớp luôn được củng cố tăng cường, đáp ứng nhu cầu học tập của con em trong xã.
Quốc phòng, an ninh được giữ vững. Lực lượng dân quân, du kích xã được huấn luyện quân sự hằng năm. Lực lượng công an được bố trí đến từng thôn làng để đảm bảo an toàn xã hội. Đã có sự phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng dân quân, du kích và công an xã trong việc nắm tình hình và bảo vệ trật tự trị an tại địa phương, nhất là trong việc ngăn chặn sự xâm nhập và lợi dụng địa bàn làm nơi đứng chân hoạt động của bọn Fulro. Mười năm sau giải phóng, Đăk Kôi vẫn tự hào là vùng căn cứ địa an toàn của cách mạng. Lực lượng Fulro và bọn phản động luôn tìm mọi cách để xâm nhập và đứng chân được ở nhiều nơi nhưng vẫn chưa có chỗ đứng tại vùng căn cứ cách mạng ở Đăk Kôi..
Trong 5 năm 1981-1985, Đảng bộ tổ chức nhiều đợt sinh hoạt chính trị nghiên cứu, quán triệt các nghị quyết, chỉ thị của Đảng. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V ( tháng 3/1982), các nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Gia Lai-Kon Tum , Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Kon Plong, nghị quyết Trung ương khóa 6 (khóa V), Chỉ thị 24 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, các nghị quyết. chỉ thị của Tỉnh ủy, Huyện ủy, Đảng ủy thường xuyên chỉ đạo công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao nhận thức lý luận chính trị và đường lối, chính sách pháp luật, trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ, đảng viên.
Trong 10 năm (1976-1985) dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ xã, nhân dân Đắk Kôi đã vươn lên khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục, tổ chức lại sản xuất. Sản xuất có bước phát triển, đời sống nhân dân được cải thiện. Cơ sở hạ tầng tiếp tục được đầu tư xây dựng, văn hóa - xã hội có bước phát triển. Đảng bộ, chính quyền và các đoàn thể được củng cố phát huy được vai trò lãnh đạo, điều hành các hoạt động xã hội ở địa phương. Tuy nhiên, cùng với những thành quả đạt được, trong 10 năm (1976-1985) Đảng bộ cũng bộc lộ một số hạn chế khuyết điểm trong lãnh đạo sản xuất phát triển nông nghiệp, chưa khai thác hết thế mạnh tiềm năng của địa phương để phát triển kinh tế; năng suất lao động chưa cao, sản lượng còn thấp, thiếu ổn định, phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên. Những thành tích và khuyết điểm trong 10 năm đầu cùng cả nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội để lại những kinh nghiệm quý cho Đảng bộ trong quá trình lãnh đạo tổ chức thực hiện nhiêm vụ chính trị ở địa phương trong công cuộc đổi mới đất nước sau này.
1 Báo cáo tổng kết tình hình huyện Đảng bộ Kon Plong năm 1977.- tài liệu lưu tại Kho lưu trữ văn phòng Tỉnh ủy Kon Tum. 1 Báo cáo Tổng kết tình hình huyện Đảng bộ Kon Plong năm 1976 –tài liệu luu tại Kho lưu trữ văn phòng Tỉnh ủy Gia Lai. 1 Theo: Báo cáo 10 năm cải tạo, xây dựng phát triển kinh tế xã hội huyện Kon Plong- Tài liệu lưu tại Văn phòng Huyện ủy Kon Rẫy.



