Thành phố Vinh những năm 1968 - 1972
Thành phố Vinh những năm 1968 - 1972 không có khái niệm ban ngày. Bầu trời xứ Nghệ luôn bị bao phủ bởi lớp khói xám xịt từ những trận pháo hạm ngoài biển khơi đánh vào và những tốp máy bay thần sấm, con ma của không quân Mỹ từ Thái Lan bay sang. Trong mắt cô gái trẻ Lê Thị Hồng Châu, tuổi 18 của chị không bắt đầu bằng những tà áo dài trắng hay những buổi chiều dạo phố, mà bắt đầu bằng tiếng còi báo động gầm rú và mùi đá hôi đặc quánh nơi chân cầu Bến Thủy.
Châu là chiến sĩ thuộc Đội Nữ tự vệ bốc xếp Cảng Bến Thủy. Ở cái tuổi mười tám, mười chín, Châu nhỏ nhắn, da sạm nắng gió biển, nhưng đôi mắt thì sáng quắc. Bến Thủy thời đó được mệnh danh là “túi bom”, là yết họng giao thông huyết mạch nối liền hậu phương miền Bắc với chiến trường miền Nam. Mỗi ngày, hàng nghìn tấn đạn dược, lương thực, xăng dầu đổ về đây. Mỹ biết rõ điều đó, nên chúng trút xuống từng mảnh đất quanh cảng hàng nghìn tấn bom đạn mỗi tháng nhằm biến nơi này thành vũng lầy chết chóc, cắt đứt sự viện trợ cho miền Nam.
Ban ngày, cảng Bến Thủy vắng lặng như một nghĩa địa phế liệu. Những chiếc cần cẩu bị đánh sập ngả nghiêng, các kho hàng bị đốt cháy rụi chỉ còn lại những cột bê tông trần trụi. Nhưng khi hoàng hôn vừa buông xuống, che khuất bóng những chiếc máy bay trinh sát của địch, cả một vùng bến cảng lại bừng lên một sức sống mãnh liệt.
Đó là lúc đội tự vệ của Châu ra quân.
Đêm hôm đó, một con tàu vận tải lớn chở đầy hòm đạn pháo và gạo cập bến. Thời gian chỉ tính bằng phút: trước khi bình minh ló rạng, toàn bộ hàng nghìn tấn hàng phải được giải tỏa, ngụy trang an toàn. Nếu chậm trễ, khi ánh mặt trời mọc lên, cảng sẽ lại hứng chịu những trận mưa bom và toàn bộ nỗ lực của con tàu sẽ tan thành mây khói.
"Tất cả vào vị trí! Đêm nay phải giải phóng xong tàu đạn!" – Tiếng Trung đội trưởng vang lên qua chiếc loa cầm tay cuốn bằng tôn.
Châu vác trên vai bao gạo nặng 50kg. Vừa đặt bao gạo xuống bãi, chị lại lao ngay xuống khoang tàu để vác tiếp những hòm đạn pháo nặng trịch, hai người khiêng không nổi phải ba người hò xé. Bờ vai của cô gái 18 tuổi sưng tấy, từng thớ thịt rát bốc hỏa dưới lớp áo quần ướt đẫm mồ hôi và bụi than. Những ngón tay rướm máu vì tạ đạn sắt, nhưng không một ai kêu than. Trong bóng tối lờ mờ chỉ được soi sáng bởi những ngọn đèn bão bọc vải đen che mắt địch, hàng trăm con người lao động với nhịp độ điên cuồng.
Đột nhiên, tiếng gầm rống xé xược không gian của phi đội máy bay B-52 và máy bay cường kích ập đến.
“Máy bay địch! Tất cả xuống hầm!”
Chưa kịp dứt tiếng hô, cả vùng trời Bến Thủy nổ tung. Bom pháo hạm từ ngoài biển bắn vào dồn dập, combined với bom văng, bom napan từ trên không trút xuống. Mặt đất rung chuyển dữ dội như một trận động đất. Khói độc và lửa đỏ rực một góc trời. Một quả bom rơi trúng đống vôi bột và xăng ngụy trang gần bến cảng, ngọn lửa bùng lên như một cột đuốc khổng lồ, soi rõ toàn bộ con tàu vận tải đang còn nửa khoang đạn pháo.
"Cháy rồi! Lửa lan đến khoang đạn rồi!" – Tiếng ai đó gào lên trong tiếng nổ chát chúa.
Nếu đạn nổ, không chỉ con tàu tan tành, mà toàn bộ lực lượng tự vệ trên bến và dải dân cư xung quanh sẽ bị xóa sổ. Trong khoảnh khắc ranh giới giữa sống và chết ấy, Châu không kịp suy nghĩ. Chị lao vụt ra khỏi hầm pháo, tay vơ lấy chiếc chăn bông cũ đã được nhúng chặt nước sông Lam.
"Ai còn sống, theo tôi dập lửa! Cứu đạn!" – Châu hô to, giọng trẻ trung nhưng đanh thép xé tan không khí sặc mùi thuốc nổ.
Noi theo Châu, hàng chạp nam nữ tự vệ từ các hầm pháo lao ra. Họ không có xe chữa cháy, không có thiết bị hiện đại. Họ dùng tay trần, dùng chăn ướt, dội từng thùng nước sông Lam trực tiếp vào ngọn lửa đang liếm dần tới những thùng đạn pháo sắt nóng rực.
Châu lao vào sát mép lửa. Sức nóng hừng hực liếm vào mặt, làm cháy xém gạt tóc mái và đôi lông mày của chị. Khói độc xộc vào mũi làm chị ngạt thở, mắt cay xè không nhìn thấy gì, nhưng tay chị vẫn ghì chặt chiếc chăn ướt đè lên khối chất nổ đang chực chờ bùng phát. Một quả bom bi bất ngờ nổ gần đó, mảnh văng sượt qua mạn sườn Châu, máu nhuộm đỏ chiếc áo lao động đơm cúc vải.
Chị choạng đi, ngã sấp xuống sàn tàu nóng rực.
"Châu! Em có sao không?" – Đồng đội lao đến định bế chị đi.
Châu gạt tay đồng đội, gào lên trong hơi thở gấp gáp: "Máu tôi chưa cạn thì hàng không thể ngưng! Cứu đạn trước!"
Chị gượng dậy, tiếp tục vơ lấy thùng nước dội thẳng vào đám cháy. Bằng sự kiên cường đến kỳ diệu của những con người xem cái chết nhẹ tựa lông hồng, sau hơn một giờ đồng hồ giằng co với lửa và bom đạn, ngọn lửa cuối cùng đã bị dập tắt. Con tàu và hàng trăm tấn đạn pháo được bảo vệ an toàn.
Trời vừa hếch sáng. Những chiếc máy bay Mỹ rút lui, để lại một Bến Thủy cày xới, mù mịt khói.
Khi mặt trời nhô lên từ phía Cửa Hội, trải ánh vàng rực rỡ xuống dòng sông Lam, con tàu đầy đạn đã rời bến an toàn, tiến về bờ bên kia để theo những chuyến xe xẻ dọc Trường Sơn vào Nam.
Châu ngồi trên bờ đê, người bám đầy muội than, máu dính khô trên mạn sườn, đôi bàn tay phồng rộp banh da. Chị nhìn theo con tàu xa dần, nở một nụ cười rạng rỡ. Trong làn sương sớm của dòng sông lịch sử, gương mặt cô gái 18 tuổi ấy bừng sáng – một vẻ đẹp rực rỡ, kiên cường của một thế hệ "thời hoa lửa", những con người đã dùng tuổi trẻ và xương máu của mình để viết nên khúc ca bất tử cho độc lập dân tộc.



