Thào A Tính
Đại tướng Nguyễn Chí Thanh. Ông tên thật là Nguyễn Vịnh, sinh ngày 01/01/1914 tại thôn Niêm Phò, xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế; là vị tướng chính trị tiêu biểu của Quân đội nhân dân Việt Nam và từng giữ nhiều trọng trách quan trọng trong cách mạng Việt Nam.
Có những con người không chỉ đi qua chiến tranh bằng bước chân người lính, mà còn đi qua lịch sử bằng trái tim của một người lãnh đạo biết sống cùng Nhân dân, biết tin vào sức mạnh của Nhân dân và biết thắp lên ý chí chiến đấu trong những thời khắc gian lao nhất.
Nguyễn Chí Thanh là một con người như thế.
Ông sinh ra trên mảnh đất Thừa Thiên Huế, nơi có dòng sông, đồng ruộng, làng quê và những con người chịu thương, chịu khó. Tên khai sinh của ông là Nguyễn Vịnh. Tuổi thơ của ông không trải trên nhung lụa. Gia đình nghèo, cuộc sống nhiều vất vả, nỗi cơ cực của người dân quê dưới ách áp bức đã sớm in sâu vào tâm hồn người thanh niên trẻ. Từ những năm tháng ấy, ông hiểu rằng nếu dân tộc còn bị nô lệ, nếu Nhân dân còn lầm than, thì tuổi trẻ không thể chỉ sống cho riêng mình.
Rồi Nguyễn Vịnh đến với cách mạng.
Con đường ấy đầy hiểm nguy. Đó là con đường của hoạt động bí mật, của những ngày bị truy lùng, bắt bớ, tù đày. Nhưng người thanh niên ấy không lùi bước. Ông tham gia phong trào cách mạng, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1937, sau đó trở thành Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên khi còn rất trẻ.
Tuổi trẻ của ông là tuổi trẻ của sự dấn thân.
Không có nhiều ngày bình yên.
Không có sự an toàn cho riêng mình.
Chỉ có niềm tin rằng Nhân dân nhất định sẽ đứng lên, đất nước nhất định sẽ có ngày độc lập.
Trong những năm tháng hoạt động cách mạng, Nguyễn Chí Thanh nhiều lần bị bắt, bị giam cầm. Nhà tù của thực dân muốn bẻ gãy ý chí người chiến sĩ trẻ. Đòn roi, xiềng xích, những ngày tháng tối tăm có thể làm thân thể con người đau đớn, nhưng không thể khuất phục được một trái tim đã chọn con đường vì dân, vì nước.
Ông không chỉ là người chiến sĩ gan dạ, mà còn là người cán bộ gần dân, hiểu dân, tin dân. Với ông, cách mạng không thể tách rời Nhân dân. Sức mạnh lớn nhất không chỉ nằm ở vũ khí, mà nằm ở lòng dân, ở sự đoàn kết, ở ý chí của những con người bình dị biết đứng lên vì quê hương.
Tháng 8 năm 1945, Nguyễn Vịnh được cử đi dự Quốc dân Đại hội ở Tân Trào và được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt tên là Nguyễn Chí Thanh. Từ đó, cái tên ấy gắn liền với một cuộc đời hoạt động cách mạng sôi nổi, bền bỉ và đầy cống hiến.
Sau Cách mạng tháng Tám, trong kháng chiến chống thực dân Pháp và sau này là kháng chiến chống Mỹ, Nguyễn Chí Thanh tiếp tục đảm nhận nhiều trọng trách lớn. Ông là một vị tướng đặc biệt — không chỉ chỉ huy bằng mệnh lệnh, mà còn bằng niềm tin, bằng sự gần gũi, bằng khả năng khơi dậy sức mạnh trong từng cán bộ, chiến sĩ và quần chúng Nhân dân.
Người ta nhớ đến ông như một “vị tướng phong trào”, bởi ở đâu ông đến, phong trào ở đó được khơi dậy; nơi nào khó khăn, ông tìm cách động viên, tổ chức, phát huy sức mạnh tập thể. Ông không đứng xa chiến sĩ. Ông đi vào thực tiễn, đến với cơ sở, lắng nghe, chia sẻ và truyền cho mọi người niềm tin rằng: dù kẻ thù mạnh đến đâu, nếu quân dân đoàn kết, nếu ý chí không khuất phục, chúng ta nhất định thắng.
Trong kháng chiến chống Mỹ, Nguyễn Chí Thanh vào chiến trường miền Nam, trực tiếp cùng quân dân nơi tuyến đầu đối mặt với những thử thách khốc liệt. Bom đạn, gian khổ, mất mát không làm ông nao núng. Ông luôn tin vào sức mạnh của chiến tranh nhân dân, tin vào thế trận bám đất, bám dân, tin vào tinh thần chiến đấu kiên cường của đồng bào, chiến sĩ miền Nam.
Ông từng gắn với tư tưởng “nắm thắt lưng địch mà đánh”, thể hiện cách đánh gần, đánh áp sát, phát huy thế chủ động, mưu trí và lòng dũng cảm của quân giải phóng trước một đối phương có ưu thế lớn về vũ khí, hỏa lực.
Nhưng ở Nguyễn Chí Thanh, điều khiến người ta xúc động không chỉ là tài thao lược hay cương vị cao. Điều sâu sắc hơn là tấm lòng của một con người luôn đau đáu với Nhân dân, với chiến sĩ, với vận mệnh đất nước. Ông hiểu rằng phía sau mỗi trận đánh là biết bao người mẹ chờ con, biết bao làng quê chịu bom đạn, biết bao tuổi trẻ đã gửi lại đời mình cho ngày độc lập.
Vì vậy, ông luôn nhắc đến trách nhiệm, niềm tin, ý chí và tinh thần tiến công.
Ông tin vào con người Việt Nam.
Tin vào người nông dân bình dị.
Tin vào người lính trẻ trên chiến hào.
Tin vào những bà mẹ, những cô gái, những em giao liên, những thanh niên xung phong, những người dân âm thầm nuôi giấu cách mạng.
Và chính niềm tin ấy đã trở thành sức mạnh.
Ngày 6 tháng 7 năm 1967, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh qua đời khi cuộc kháng chiến chống Mỹ vẫn đang diễn ra ác liệt. Ông chưa kịp nhìn thấy ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất. Nhưng trong chiến thắng năm 1975, có phần công sức, trí tuệ, niềm tin và sự tận hiến của ông.
Câu chuyện về Nguyễn Chí Thanh khiến ta xúc động bởi đó là câu chuyện của một người đã sống trọn đời cho cách mạng. Từ một người thanh niên nghèo ở làng quê Thừa Thiên Huế, ông trở thành vị tướng, nhà lãnh đạo, người cán bộ mẫu mực của Đảng và quân đội. Nhưng dù ở cương vị nào, ông vẫn giữ một phẩm chất đáng quý: gần dân, tin dân, vì dân.
Hôm nay, đất nước đã hòa bình. Thế hệ trẻ không còn phải bước vào chiến trường như cha anh năm xưa. Nhưng bài học từ Nguyễn Chí Thanh vẫn còn nguyên giá trị. Đó là bài học về bản lĩnh, về niềm tin, về tinh thần dám đi đến nơi khó khăn, dám nhận việc nặng nề, dám sống vì lợi ích chung.
Noi gương Nguyễn Chí Thanh hôm nay là biết học tập nghiêm túc, lao động sáng tạo, sống trung thực, trách nhiệm; biết gần gũi với Nhân dân, biết lắng nghe, biết hành động vì cộng đồng; biết biến lòng yêu nước thành những việc làm cụ thể trong học tập, công tác và cuộc sống hằng ngày.
Nguyễn Chí Thanh đã đi xa, nhưng tên tuổi ông không mất.
Ông còn sống trong lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam.
Sống trong niềm tự hào của quê hương Thừa Thiên Huế.
Sống trong hình ảnh người cán bộ luôn tin vào Nhân dân, luôn đặt lợi ích của Tổ quốc lên trên tất cả.
Giữa thời hoa lửa, có một vị tướng đã đi qua gian khổ bằng trí tuệ, bản lĩnh và trái tim nóng bỏng niềm tin.
Người ấy mang tên Nguyễn Chí Thanh — người giữ lửa nơi tuyến đầu, ngọn lửa của ý chí, niềm tin và tinh thần chiến đấu Việt Nam.



