THEO TRUNG ĐOÀN 174 TIẾN QUÂN VÀO ĐỊCH HẬU (1951-1952)
Đoạn hồi ức là bức tranh bi tráng về cuộc tiến quân vào lòng địch của Đại đoàn 316, nơi ranh giới giữa sự sống và cái chết chỉ cách nhau bằng một ánh đèn pha hay một nhịp cầu nhân dân. Giữa mưa phùn gió bấc và sự tàn bạo "đốt sạch, giết sạch" của giặc Pháp, những người lính Trung đoàn 174 đã dựa vào "rừng dân" để hành quân, chiến đấu và giải phóng quê hương. Hình ảnh 17 ngôi mộ liệt sĩ được dân làng Bì Đổ chăm sóc vuông vức sau trận chống càn khốc liệt là minh chứng cao đẹp nhất cho sức mạnh của
Nhận lệnh trên, Đại đoàn 316 rời Lạng Sơn tiến vào địch hậu. Đường hành quân vô vàn khó khăn và nguy hiểm, phải vượt qua những cánh đồng đai trắng trống trải, qua các hệ thống tháp canh, đồn bốt dày đặc của giặc Pháp. Trên những đường 13, 18 chúng có hoả lực rất mạnh, chi viện cho nhau rất chặt, nếu phát hiện bộ đội ta. Vượt qua sông Thương, sông Cầu, sông Đuống, phương tiện đều trông vào dân. Trên đê các đồn, trạm địch có đèn pha, đêm đêm lia quét, bắn pháo sáng, kiểm soát trên bờ, mặt sông rất ngặt; phải vượt qua những cánh đồng chiêm trũng nước mênh mông, nước lầy lội, suốt đêm đông mưa phùn gió bấc.
e174 xuống Hiệp Hoà (Bắc Giang), qua vành đai Phù Lỗ, tiêu diệt đồn La RiVê, bảo đảm cho e98 vào địch hậu an toàn. Ngày 15/12/1951, e174 tiến gấp vào Bắc Ninh đánh địch. Đồng bào Lạng Giang - Yên Dũng (Bắc Giang), Quế Võ (Bắc Ninh) sống bao năm dưới sự càn quét, chiếm đóng của địch, đã dùng những chiếc thuyền nan, bè chuối đơn sơ, những bát nước chè xanh cho đến cả nắm rạ nấu cơm để chở đón quân mình qua sông bằng cả tấm lòng tình nghĩa sâu nặng.
d1 e174 hành quân xuyên đường đồng chiêm giữa đêm tối mịt mùng, có chiến sĩ ngã xuống vì rét. Bỗng cây gỗ làm cầu đang đi tụt xuống một đầu, đội hình ùn tắc. Đồng chí huyện ủy viên Gia Lương đi cùng chạy thốc lên, lao ngay xuống nước buốt, ghé vai nâng cầu. Bộ đội ngần ngại... thì đồng chí giục như ra lệnh: Các anh em đi nhanh, mặc tôi, nếu không pháo đồn nó bắn tới là nguy.
Trung đoàn bộ e174 đang vượt đường 18 thì gặp xe tuần tiễu của địch, đội hình bị đứt. Tôi trong bộ phận trung đoàn trưởng Đặng Văn Việt, tham mưu phó trung đoàn Nguyễn Văn Khiếu bấm đèn pin loé ra bằng hạt ngô tìm lối chân, nhưng ruộng khô, trơ gốc mạ, không dấu vết...
Thỉnh thoảng vài quả pháo sáng làng tề bay vọt lên phía xa xa rồi tắt ngấm, trời càng tối đen thêm. Tôi rút khẩu súng quay khỏi bao, Việt Hùng cũng làm theo, năm sáu người chụm lại gỡ bí. Cuối cùng trung đoàn trưởng Việt quyết định: Đồng chí Việt Hùng và một số chiến sỹ đi thẳng hướng này đến một làng tề2 "bắt cóc" một người để dẫn đường. Việt Hùng hăng hái nhận lệnh cùng một chiến sỹ đi luôn. Khoảng hơn 30’, thời gian trôi chậm chạp khiến mọi người như có lửa đốt. Thế rồi Việt Hùng và liên lạc đã đưa được một người đàn ông ngoài 50 tuổi tới. Chúng tôi yêu cầu dẫn đường tới H. Gần H chúng tôi trả người đó, không quên cảm ơn và xin lỗi việc làm bắt buộc này.
Đội hình hàng một của cả một trung đoàn dài dặc đều tới đích an toàn, mỗi trung đoàn khoảng trên 2 ngàn quân3 được nhân dân dấu kín sau các luỹ tre làng, sát nách địch mà chúng không hay, không biết. Thật là “Rừng dân che bộ đội, rừng dân vây quân thù".
Đêm 10/12/1951, tiếng súng mở màn chiến dịch nổ, e174 và e98 cùng các lực lượng vũ trang địa phương và đồng bào địch hậu tiến công địch, như thế chẻ tre, hàng loạt đồn bốt địch ở nam phần Bắc Ninh bị san phẳng. Đồn Thía (quận lỵ Lang Tài), đồn Phương Xá, Lạc Thổ (Hồ) v.v... tan tành. Địch tại Đạm Trai và nhiều nơi khác ra hàng. San bằng đồn Đồng Kỵ, diệt ác, phá tề. Cả vùng Tiên – Quế - Võ (Bắc Ninh) được giải phóng - Nam Sách, Bình Giang, Thanh Miện (Hải Hưng), Khoái Châu, Ân Thi, Tiên Lữ (Hưng Yên) được giải phóng.
d9 chuẩn bị đánh đồn Vân Độ (Bình Giang), vùng này hàng trăm người bị chọc tiết, mổ bụng, moi gan, mọi phụ nữ bị hãm hiếp dã man, tất cả ông già, bà già, trẻ em bị tra tấn khốc liệt, hàng trăm người bị chặt đầu, bêu cọc, hàng trăm nóc nhà bị đốt phá, hàng nghìn gia đình trong cảnh màn trời chiếu đất. Tại bốt Ruối, chúng treo lủng lẳng hàng xâu dài tai người để uy hiếp đồng bào ta. Xung quanh bốt là cánh đồng phơi xương trắng. Chính sách của địch là: Cướp sạch, đốt sạch, giết sạch. Nhân dân vô cùng căm thù giặc, ngày đêm mong Đảng, Bác Hồ cho bộ đội vào giải phóng. Cán bộ, chiến sỹ nghe dân vạch tội ác của giặc mà cổ như nghẹn lại, lòng căm thù giặc càng sâu, quyết tâm giết giặc càng cao.
Đêm 26/2/1952, d249 đã san bằng đồn Vân Độ. Đồng bào vô cùng phấn khởi, nô nức theo bộ đội thu chiến lợi phẩm, phá đồn.
Những trận càn lớn do các Binh đoàn của địch số 1, 2, 3, 4, 7 thực hiện. Hai trung đoàn 174, 98 tổ chức chặn đánh mấy ngày, diễn ra nhiều lần tại cánh đồng Nghi An, Cửu Cáp (Bắc Ninh), diễn ra ở Bì Đổ, Ô Xuyên (Bình Giang - Hải Dương) vô cùng ác liệt. Cậy quân đông, có hoả lực dày, mạnh. Chúng đổ quân địch trên các trục đường, rải quân khắp cánh đồng, hình thành nhiều mũi, hợp vây quân ta vào giữa, phát huy mọi cỡ hoả lực, cho xe tăng bò sát ven làng bắn như đổ đạn, máy bay “Đầm già” vè vè lượn gần sát ngọn tre chỉ mục tiêu cho pháo. Những chiếc phi cơ Hen Cát đen trũi gầm rít, quần đảo lồng lộn nối nhau thả bom phá, bom napan lửa cháy, khói đen đặc quánh bụi đồi, tro than mờ mịt, cả không gian sôi réo ầm ầm, chớp bom loé chói liên tục, bầu trời như sập xuống muốn tước ra nứt toác, tiếng đạn cối, pháo, trung liên, súng trường thi nhau nổ. Mặt đất rung rinh chao đảo đất trời muốn vỡ vụn ra, co giật liên hồi. Quân ta nhễ nhại đẫm mồ hôi, mặt mũi nhọ nhem, áo quần sạm đen khói súng vẫn bình tĩnh trong đội hình chiến đấu đánh trả quyết liệt. Nhiều nơi ta đánh giáp la cà, đẫm máu giặc, giành giật từng đoạn luỹ tre, khúc hào. Bảy tám lần phi pháo, tăng địch liên tiếp đều không vào được làng. Ngược lại chúng phải trả giá rất đắt, trận đấu đẫm máu, lính Âu Phi chết như rạ khắp đồng. Trời tối, chúng vội vã rút lui đưa theo nhiều xác chết và lính bị thương.
Tôi quên sao được đồng chí Kinh, người Cao Lan, là cán bộ tiểu đội, một mình tử chiến quyết giữ cổng làng Nghi An, đánh bật nhiều đợt xung phong của giặc trọn một ngày. Không được tiếp tế, đồng chí giữ vững cổng làng, lại còn cướp được trung liên của địch.
Đầu tháng 2-1952, một tối thưa sao trời, gió đông nam hiu hiu thổi, mùi khét dầu xe tăng và khói đạn bom, mùi gây lợm thịt người cháy. Cái chết chóc cảm như còn rình rập đâu đây. Những đống tàn tro còn nghi ngút khói. Tôi ở trong phái đoàn của e174 đến thăm đồng bào Bì Đổ, Ô Xuyên vừa trải qua một trận càn khốc liệt trong ngày. Trước cảnh xóm làng trần trụi tan nát, tăng địch nghiền đi, trà lại, nhẵn như sân. Đồng bào đã tập trung ở giữa làng, ai nấy vẫn vững vàng, hằn căm uất còn hiện trên nét mặt. Mọi người nêu thắc mắc với phái đoàn:
“Tại sao Trung đoàn không tới cứu để hàng trăm lính Pháp vây một phân đội nhỏ của ta ở đây suốt một ngày? Anh em chiến đấu rất hăng mà phải hy sinh gần hết, Chúng tôi đã khâm liệm, chôn cất ở đám ruộng cạnh làng, còn 3 anh em rút sang làng bên...”.
Lính ngụy ở đây ai cũng thù ghét. Anh trung đội trưởng lệnh: Không bắn ngụy, để Tây tới thật gần, ăn chắc hãy nổ súng...”.
“Bộ đội nhịn đói cả ngày đánh giặc, chúng tôi nấu cơm ở hầm mang ra tiếp tế nhất định không ăn, có phải khinh vùng tề chúng tôi chăng?...”
Tất cả các câu hỏi dồn dập, hờn dỗi, bực tức, nghẹn ngào nhưng rất đỗi thân thương. Đồng chí Nguyễn Hữu An tiểu đoàn trưởng 249 thay mặt đoàn ân cần thăm hỏi, chia sẻ những mất mát đau thương và trả lời:
“Vì các đơn vị khác đều phải đánh địch ở các nơi khác. Địch dùng một lực lượng rất lớn đổ quân bao vây định đè bẹp ta. Ngay từ phút đầu ta phải 1 chọi với 3, 4 tên nên không còn lực lượng chi viện.”
“Vì giặc Pháp là kẻ thù chính cần phải tiêu diệt, còn ngụy quân là dân bị bắt buộc cầm súng làm bia đỡ đạn cho chúng. Ta thực hiện ngụy vận tất họ sẽ vác súng quay về với ta, gặp ta họ chỉ bắn vu vơ, do đó có lợi cho ta...”
“Vì nhân dân ở đây bị đàn áp bóc lột 7 năm ròng, nay bộ đội lại lấy nữa của dân, dân đói, anh em không đành...”. Có nhiều tiếng nức nở khóc! Tim tôi đập mạnh, người nóng ran.
Sau khi cám ơn, tạm chia tay với đồng bào, chúng tôi được cán bộ đảng viên ở đây đưa đến nơi an táng các chiến sỹ hy sinh trong ngày. Dưới bờ tre thui trụi là một đám ruộng lõm vào rìa làng có 17 ngôi mộ đều được đắp đất cao, nện bù cẩn thận, trên mặt mỗi mộ đặt ba nấm cỏ ngay ngắn mới tinh, 17 mộ xếp thẳng hàng vuông vức hiên ngang như phân đội lúc sinh thời xếp hàng tuyên thệ dưới lá quân kỳ. Mỗi mộ trên cắm ba nén hương đen cháy gần hết, khói còn bảng lảng quanh bờ luỹ như muốn nói gì với người sống về trận chiến đấu trong ngày.
Chúng tôi bỏ mũ cúi đầu mặc niệm, vĩnh biệt 17 đồng đội thân yêu. Tuy chẳng có nghi lễ gì mà sao trang nghiêm mà xúc động đến thế. Từng đôi vào một, một số đồng chí trong đoàn và mấy đồng chí địa phương rung lên, chúng tôi đã khóc, khóc vì thương đồng đội tuổi đời còn rất trẻ đã sớm anh dũng hy sinh; khóc vì cảm động trước lòng yêu thương của đồng bào địa phương dù khốc liệt đến vậy, chỉ một thoáng đã chôn cất con em mình "mồ yên, mả đẹp". Nhân dân vùng Ô Xuyên - Bì Đổ lấy ngày chống càn thắng lợi (28-2-1952) là ngày Giỗ Trận để tưởng nhớ anh em tiểu đoàn 249 đã ngã xuống trên mảnh đất Ba Bì. Nhân dân đã xây một nghĩa trang liệt sĩ trong đó có 33 đồng chí của ta (có đồng chí Quang - người Nhật - là đại đội phó trợ chiến) cùng du kích và nhân dân địa phương đã hy sinh trong trận chống càn. Chỉ tiếc rằng cả 33 ngôi mộ đều không có tên!...


