THI TƯỚNG HUỲNH VĂN NGHỆ – NGƯỜI CHIẾN SĨ “TAY GƯƠM, TAY BÚT”
Huỳnh Văn Nghệ (1914–1977), thường được gọi là Tám Nghệ, bí danh Hoàng Hồ, sinh ngày 2-2-1914 tại làng Tân Tịch, huyện Tân Uyên, tỉnh Biên Hòa, nay thuộc khu vực Thường Tân, Thành phố Hồ Chí Minh. Từ khi còn trẻ, ông đã tham gia hoạt động cách mạng và sớm bộc lộ năng khiếu văn chương. Ông từng học tại Trường Pétrus Ký ở Sài Gòn và làm việc tại Sở Hỏa xa.
Trong những năm hoạt động cách mạng, Huỳnh Văn Nghệ nhiều lần phải đối mặt với sự truy bắt của chính quyền thực dân. Giai đoạn 1942–1945, ông hoạt động tại Thái Lan, tham gia tổ chức văn hóa và báo chí của người Việt yêu nước. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ông trở về Nam Bộ và tham gia lãnh đạo cuộc kháng chiến tại Biên Hòa.
Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Huỳnh Văn Nghệ là một trong những người có công lớn trong việc xây dựng, củng cố và bảo vệ Chiến khu Đ – căn cứ cách mạng quan trọng của miền Đông Nam Bộ. Ông từng giữ nhiều cương vị quân sự như Chỉ huy trưởng Vệ quốc đoàn Biên Hòa, Chi đội trưởng Chi đội 10, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 310, Khu bộ trưởng rồi Tư lệnh Khu 7.
Không chỉ giỏi chỉ huy, Huỳnh Văn Nghệ còn nổi tiếng bởi khả năng làm thơ. Giữa những năm tháng chiến tranh gian khổ của rừng miền Đông, ông vừa cầm súng chiến đấu vừa cầm bút ghi lại tình yêu quê hương, nỗi nhớ đồng bào và ý chí chiến đấu của người dân Nam Bộ. Chính vì vậy, ông được mọi người trìu mến gọi là “Thi tướng”.
Một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất của ông là bài thơ “Nhớ Bắc”, sáng tác năm 1940. Hai câu thơ:
“Từ độ mang gươm đi mở cõi,
Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long.”
đã trở thành những câu thơ quen thuộc khi nhắc đến Huỳnh Văn Nghệ. Qua bài thơ, tình yêu quê hương miền Nam hòa quyện với nỗi nhớ nguồn cội và lịch sử dân tộc.
CHÙM ẢNH TƯ LIỆU

Ảnh tư liệu của bài viết.
Sau Hiệp định Genève năm 1954, Huỳnh Văn Nghệ tập kết ra miền Bắc và tiếp tục đảm nhiệm nhiều công tác trong quân đội, sau đó công tác trong ngành lâm nghiệp. Từ năm 1965, ông trở lại miền Nam, công tác tại căn cứ Trung ương Cục miền Nam, đảm nhiệm nhiều vị trí liên quan đến căn cứ, kinh tài và lâm nghiệp. Sau ngày đất nước thống nhất, ông giữ chức vụ Thứ trưởng Bộ Lâm nghiệp.
Huỳnh Văn Nghệ qua đời ngày 5-3-1977 tại Thành phố Hồ Chí Minh. Năm 2005, ông được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học, Nghệ thuật; năm 2010 được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân vì những đóng góp trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp.
Điều làm nên nét đặc biệt của Huỳnh Văn Nghệ là hình ảnh một người chiến sĩ vừa cầm súng vừa cầm bút. Ông không chỉ góp phần xây dựng Chiến khu Đ và chỉ huy lực lượng vũ trang miền Đông Nam Bộ, mà còn dùng thơ ca để lưu giữ ký ức về quê hương, đồng đội và những năm tháng chiến đấu.



