Anh hùng Lực lượng vũ trang

THI TƯỚNG RỪNG XANH

TP. Hồ Chí Minh22/10/2026Xã Thanh Sơn (Đoàn xã Thanh Sơn)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Có những con người mà cuộc đời họ tự nó đã là một câu chuyện không cần ai thêm thắt, không cần tô vẽ. Huỳnh Văn Nghệ là một người như vậy. Ở vùng đất Thanh Sơn, Đồng Nai, mỗi khi nhắc đến Chiến khu Đ, cái tên từng làm quân Pháp khiếp đảm suốt những năm kháng chiến thì người lớn tuổi vẫn còn nhắc đến ông với ánh mắt khác hẳn. Không phải kiểu kể chuyện sách giáo khoa. Mà là kiểu người ta kể về một người thân, gần gũi, thương mến, và tự hào.

 

Huỳnh Văn Nghệ sinh năm 1914 trong một gia đình nghèo ở Tân Uyên, Biên Hòa. Dù hoàn cảnh khó khăn, ông học rất giỏi và được cấp học bổng theo học trường Petrus Ký tại Sài Gòn. Sau khi tốt nghiệp, ông làm công chức ở Sở Hỏa xa Đông Dương. Tuy nhiên, trước cảnh đất nước bị thực dân Pháp cai trị, ông sớm tham gia hoạt động cách mạng và gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1937.

 

Sau thất bại của khởi nghĩa Nam Kỳ năm 1940, Huỳnh Văn Nghệ sang Thái Lan hoạt động. Tại đây, ông tham gia tổ chức người Việt yêu nước, chống phát xít Nhật và xuất bản tờ báo “Hồn cố hương”. Những năm tháng xa quê cũng là lúc ông sáng tác nhiều thơ ca, gửi gắm tình yêu quê hương và khát vọng trở về góp sức cho đất nước.

 

Năm 1944, Huỳnh Văn Nghệ bí mật trở về nước, bắt liên lạc với Bí thư Xứ ủy Trần Văn Giàu và được giao nhiệm vụ: về Tân Uyên, xây dựng lực lượng vũ trang. Ông về, về đúng mảnh đất quê mình, nơi có rừng già, có sông sâu, có người dân nghèo khổ nhưng gan lì không kém ai. Từ tay trắng, ông tập hợp từng người một những thanh niên địa phương, những người dân thường chưa bao giờ cầm súng và bắt đầu xây dựng lực lượng kháng chiến.

 

Tháng 8 năm 1945, Cách mạng tháng Tám bùng nổ. Huỳnh Văn Nghệ trực tiếp chỉ huy lực lượng cướp chính quyền tại Biên Hòa, bắt sống tỉnh trưởng và cảnh sát trưởng của chế độ cũ. Chỉ trong vài ngày, chính quyền thực dân ở đây sụp đổ. Nhưng hòa bình chưa kịp yên thì giặc Pháp đã quay lại. Tháng 9 năm 1945, Pháp núp bóng quân Anh, tái chiếm Sài Gòn. Cuộc kháng chiến bắt đầu.

 

Tháng 11 năm 1945, Huỳnh Văn Nghệ được giao chỉ huy quân giải phóng Biên Hòa và xây dựng Chiến khu Đ. Dưới sự lãnh đạo của ông, căn cứ giữa rừng sâu này dần trở thành một thành trì kháng chiến vững chắc của Nam Bộ. Không qua trường lớp quân sự chính quy, ông tự học từ sách vở và thực tiễn chiến trường, chỉ huy nhiều trận đánh quan trọng, tiêu biểu là chiến thắng Trảng Bom. Năm 1948, ông một mình vào căn cứ Bình Xuyên thuyết phục Bảy Viễn tham gia kháng chiến và đã thành công. Đến năm 1952, dù phải đối mặt với bão lũ, thiếu thốn và cuộc tấn công quy mô lớn của thực dân Pháp, ông vẫn cùng đồng đội chiến đấu suốt 52 ngày đêm, bảo vệ Chiến khu Đ và làm thất bại âm mưu xóa sổ căn cứ. Trước chiến công ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi tặng ông một chiếc áo trấn thủ như sự ghi nhận đặc biệt.

 

Điều khiến Huỳnh Văn Nghệ trở nên khác biệt với nhiều vị chỉ huy khác, là ông còn là một nhà thơ và không phải nhà thơ tay ngang, làm thơ cho vui. Ông làm thơ ngay trong chiến khu, ngay giữa những ngày gian khổ nhất. Thơ ông không hoa mỹ, không đài các. Nó được viết bằng ngôn ngữ của người lính, bằng cảm xúc thật của người vừa đi qua trận đánh, vừa ngồi bên suối nghe tiếng nước chảy mà nhớ nhà. Ông từng tự viết về mình:

 

"Tôi là người lăn lóc giữa đường trần

Không phân biệt lúc mài súng múa bút

Đời chiến sĩ máu hòa lệ, mực

Còn yêu thương là chiến đấu không thôi."

 

Bài thơ “Nhớ Bắc” ông viết tại Chiến khu Đ năm 1946, khi miền Nam đang chìm trong khói súng, trong nhớ thương có bốn câu được lưu truyền đến tận bây giờ, nhiều thế hệ thuộc nằm lòng:

 

"Ai về xứ Bắc ta đi với

Thăm lại non sông giống Lạc Hồng

Từ độ mang gươm đi mở cõi

Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long."

 

Thơ của Huỳnh Văn Nghệ gắn liền với từng chặng đường kháng chiến ở Chiến khu Đ, ghi lại những trận đánh, những năm tháng gian khó và tình cảm sâu nặng với đồng đội, quê hương. Chính vì vậy, ông được đồng đội và nhân dân miền Đông trìu mến gọi là “Thi tướng rừng xanh” người vừa cầm súng, vừa cầm bút.

Năm 1953, ông ra miền Bắc học tập và công tác, sau đó trở lại miền Nam tham gia kháng chiến chống Mỹ. Sau ngày đất nước thống nhất, ông tiếp tục làm việc trong ngành lâm nghiệp. Ông qua đời năm 1977, hưởng thọ 63 tuổi. Đến nay, tên tuổi Huỳnh Văn Nghệ vẫn được người dân trân trọng, ghi nhớ như một người chiến sĩ kiên trung và một nhà thơ giàu lòng yêu nước.

 

Chiến tranh đã lùi xa, nhưng câu chuyện về người con của rừng Đồng Nai Huỳnh Văn Nghệ vẫn còn nguyên giá trị. Đó là ngọn lửa nhắc nhở mỗi người trẻ hôm nay phải biết gìn giữ hòa bình, trân trọng độc lập và sống xứng đáng với những hy sinh của các thế hệ cha anh.

Có những mùa xuân đã đi qua giữa rừng già và tiếng súng.

Có những người đồng đội đã không thể trở về.

Nhưng tình yêu nước, lòng kiên trung và cái tâm hồn vừa cầm súng vừa làm thơ của người thi tướng ấy vẫn mãi trường tồn cùng dân tộc.

Và đó chính là câu chuyện thời hoa lửa còn sống mãi với thời gian.


 

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn