Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Thiếu tướng Nguyễn Văn Lưỡng hay quân dân tỉnh Tiền Giang cũ còn gọi với tên thân thương là “Bác Sáu Lưỡng”.

“Đất này từng Khởi Nghĩa Bốn Mươi Đất này Giồng Dứa lừng danh tiếng Đất này Ấp Bắc phất cao cờ!” Đó là những câu hát trong ca khúc Ta lớn lên từ đất này của nhạc sĩ Phạm Tuyên được phổ nhạc từ bài thơ Có một Tiền Giang của nhạc sĩ Lê Hà, những câu hát trên ca ngợi chiến công vang dội của lực lượng vũ trang tỉnh Tiền Giang cũ (nay là tỉnh Đồng Tháp) trong suốt ba mươi năm kháng chiến vệ quốc vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Vào thời đại toàn dân ra trận đó, một người chiến sĩ du kích trẻ đã sớm giác ngộ lý tưởng vĩ đại của đảng và sau này là một trong những người chỉ huy xuất sắc của Quân Khu 9, đó là Thiếu tướng Nguyễn Văn Lưỡng hay quân dân tỉnh Tiền Giang cũ còn gọi với tên thân thương là “Bác Sáu Lưỡng”.

Đồng Tháp10/08/2026Phường Trung An (Phường Trung An)9 lượt xem0 lượt chia sẻ
Thiếu tướng Nguyễn Văn Lưỡng hay quân dân tỉnh Tiền Giang cũ còn gọi với tên thân thương là “Bác Sáu Lưỡng”.

Thiếu tướng Nguyễn Văn Lưỡng sinh ngày 2 tháng 5 năm 1949 tại xã Mỹ Phước Tây, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang nay là phường Mỹ Phước Tây, tỉnh Đồng Tháp. Nguyên Phó Tư Lệnh Quân Khu 9, Nguyên Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy Quân Sự tỉnh Tiền Giang, Nguyên Đại Biểu Quốc Hội Khoá X thuộc Đoàn Đại Biểu Tiền Giang.

 

     Ông sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống cách mạng nên vào năm 1961 khi mới chỉ mười hai tuổi, giác ngộ được tư tưởng của đảng và ảnh hưởng bởi phong trào “Thi Đua Ấp Bắc – Giết Giặc Lập Công”, ông khai gian lên thêm 3 tuổi để bắt đầu tham gia làm giao liên, tiếp tế cho cán bộ cách mạng tại quê nhà. Đến năm 1964, ông được kết nạp vào Tiểu đoàn 514 hay còn gọi là Tiểu đoàn Mỹ Tho hay “Tiểu đoàn Gắng Thép” . Năm 1968, Cuộc Tổng Công Kích Và Nổi Dậy Tết Mậu Thân làm rúng động Nhà Trắng thì ở khu vực Mỹ Tho, ông lúc này giữ chức quyền đại đội trưởng Đại đội 1 thuộc Tiểu đoàn 514 với nhiệm vụ tấn công khu vực phía Tây. Rạng sáng mùng 2, đơn vị ông cùng các mũi tấn công khác của Tiểu đoàn 514 bất ngờ đánh chiếm nhiều mục tiêu quan trọng, Đại đội 1 đã tham gia đánh chiếm và làm chủ được một số khu vực tại nội ô, gây hoang mang cực độ cho chính quyền Sài Gòn tại địa phương và tổng thống Nguyễn Văn Thiệu lúc này đang lưu trú tại quê nhà vợ nay thuộc địa bàn phường Đạo Thạnh, tỉnh Đồng Tháp. Từ tháng năm đến tháng tám năm 1968, ông đã chỉ huy đơn vị tham gia đánh phá các đồn bốt dọc lộ 4 (Quốc lộ 1 hiện nay), góp phần làm tê liệt tuyến giao thông huyết mạch của địch từ Sài Gòn về miền Tây. Đến năm 1969, nhận thấy ông lập được nhiều thành tích xuất sắc và trưởng thành, ông đã chính thức đứng vào hàng ngũ đảng. Sau Tết Mậu Thân, địch lập các “vành đai trắng” khiến đơn vị của ông phải rút vào vùng Đồng Tháp Mười và ven lộ 4, không vì vậy mà nản chí, ông chuyển sang chỉ huy các phân đội nhỏ thực hiện chiến thuật “đánh hiểm, đánh đau” vào các đoàn xe quân sự của địch trên Quốc lộ 4 làm gián đoạn việc tiếp tế của quân đội Sài Gòn. Ông còn thể hiện khả năng tòng quân tài tình của mình trong việc chống càn quét của địch, dù địch dùng nhiều vũ khí, chiến lược hiện đại càn quét liên tục, ông vẫn chỉ huy đơn vị bám trụ trong các lõm căn cứ, bảo vệ cơ quan đầu não của Tỉnh đội Tiền Giang. Giai đoạn từ năm 1972 – 1974, ông đã dẫn dắt đơn vị bám trụ kiên cường để bẻ gãy các kế hoạch lấn chiếm của địch, giữ vững vùng giải phóng và trực tiếp đánh phá tuyến huyết mạch Quốc lộ 4, tạo thế và lực sẵn sàng cho cuộc Tổng Tiến Công Mùa Xuân năm 1975. Đầu năm 1975, ông giữ chức tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 514, ông chỉ huy Tiểu đoàn tổ chức hàng loạt trận đánh dọc đoạn đường từ Cai Lậy đến Cái Bè. Đơn vị của ông đã đánh sập cầu, gài mìn và phục kích các đoàn xe quân sự, khiến việc lưu thông của địch bị tê liệt. Vào những ngày giờ cuối cùng của công cuộc Giải Phóng Miền Nam, ông phối hợp cùng cánh quân chủ lực của ta từ miền Đông đánh xuống, ông chỉ huy tiểu đoàn đẩy mạnh vây ép các phân chi khu và đồn bốt của địch dọc kinh rạch. Đặc biệt là trận đánh tại Căn cứ Đồng Tâm, đơn vị của ông tham gia phối hợp cùng các lực lượng khác bao vây, gây áp lực mạnh lên căn cứ Đồng Tâm (nơi đóng quân của Sư đoàn 7 bộ binh địch), khiến quân địch hoang mang, tan rã tại chỗ. Rạng sáng ngày 30 tháng 4, nhận lệnh tổng tiến công, ông chỉ huy mũi nhọn của Tiểu đoàn 514 đánh thọc sâu vào các mục tiêu quan trọng tại nội ô thành phố Mỹ Tho, đến trưa, sau khi tin Chiến Dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, non sông Việt đã liền một dải, ông cùng các cánh quân của tỉnh nhanh chóng làm chủ các công sở, ty cảnh sát và tiểu khu quân sự của địch.

 

1.jpg

Tiểu đoàn 514(hình chụp năm 1963)

“Mang trên mình còn lắm vết thương

Người vẫn hiên ngang ra chiến trường”

     Câu hát trên là của ca khúc Chiến đấu vì Độc lập – Tự do của nhạc sĩ Phạm Tuyên nói về thời kỳ hòa bình chưa trọn vẹn của dân tộc Việt Nam. Sau khoảnh khắc Bắc – Nam chung một nhịp tim, nhân dân miền Nam chưa yên vui được bao lâu thì đã phải bước sang thời kỳ mà ba tôi, Đại tá Bùi Thanh Lợi từng trực tiếp chiến đấu với tàn quân Khmer Đỏ tại Mặt Trận 479 (Chiến Trường K) ví như “Vết máu còn rỉ trên trang sử nhân loại thế kỷ XX”, đó là Chiến tranh biên giới Tây Nam. Trước sự tàn bạo của quân Pol Pot – Leng Sary, thiếu tướng Nguyễn Văn Lưỡng trực tiếp chỉ huy Trung đoàn 157 chiến đấu tại khu vực biên giới tỉnh An Giang và Long An, nơi quân địch tàn sát đồng bào ta đẫm máu nhất. Đến tháng 1 năm 1979, trong những ngày cuối cùng để đưa dân tộc Khmer thoát khỏi bóng đêm u tối, đơn vị của ông xuất phát từ hướng biên giới Long An – An Giang, trực tiếp tham gia đánh phá các tuyến phòng thủ vòng ngoài của quân Pol Pot. Với kinh nghiệm tác chiến vùng sông nước, Trung đoàn 157 được giao nhiệm vụ đánh chiếm các cầu phà và bến bãi dọc các con sông lớn đổ về Phnom Penh. Việc làm chủ các điểm này giúp các cánh quân thiết giáp của ta tiến quân không bị gián đoạn. Khi các mũi quân tình nguyện Việt Nam hội quân tại Phnom Penh, Trung đoàn 157 tham gia vây ép và đánh chiếm các cứ điểm ở vùng ven phía Nam thành phố. Đây là nơi quân Pol Pot đặt các chốt chặn cuối cùng để bảo vệ thủ đô. Sau khi các đơn vị chủ lực làm chủ các cơ quan trung ương, đơn vị của ông tham gia vào việc truy quét tàn quân còn lẩn lút trong các khu vực dân cư và công sở bị bỏ hoang. Ngay sau khi Phnom Penh được giải phóng,  trong suốt 10 năm từ năm 1979 – 1989 ông tiếp tục chỉ huy quân sĩ bám sát gót tàn quân Pol Pot khi chúng rút chạy về phía Tây và Tây Bắc (hướng về biên giới Thái Lan).

 

     Sau khi hoàn thành nghĩa vụ quốc tế tại Campuchia và rút quân về nước vào năm 1989, sự nghiệp của ông bước sang một trang mới, ông tập trung xây dựng quân đội chính quy và củng cố nền quốc phòng toàn dân trong thời bình. Đến năm 1997, ông được bổ nhiệm làm Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy Quân Sự tỉnh Tiền Giang và trúng cử Đại Biểu Quốc Hội Khoá X. Vào năm 2005, ông được Chủ   Nước Trần Đức Lương thăng quân hàm Thiếu tướng và đảm nhiệm chức vụ Phó Tư Lệnh Quân Khu 9. Tháng 5 năm 2009, ông chính thức về hưu.

 

     Gần 50 năm cống hiến liên tục cho sự nghiệp quốc phòng của Tổ Quốc. Ông được trao tặng nhiều huân huy chương, kỉ niệm chương với nhiều bằng khen của các cấp ủy lãnh đạo. Giờ đây, ông có một cuộc sống giản dị trong căn nhà ở khu phố Long Mỹ, phường Trung An, tỉnh Đồng Tháp. Thiếu tướng Nguyễn Văn Lưỡng là một nhân chứng sống cho giai đoạn lịch sử hào hùng và bi tráng của dân tộc. Cuộc đời ông là một bản hùng ca về sự kiên trung, từ cậu bé du kích nhỏ tuổi đến vị tướng của nhân dân.

 

2.jpg


Thiếu tướng Nguyễn Văn Lưỡng phát biểu nhân dịp 81 năm Ngày thành lập Quân Đội Nhân Dân Việt Nam

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn