Thiếu tướng Phạm Bân – Người lính đi qua ba cuộc chiến
Lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc của Việt Nam được viết nên bởi biết bao thế hệ cán bộ, chiến sĩ đã cống hiến trọn đời mình cho đất nước. Trong số đó, Thiếu tướng Phạm Bân là một tấm gương tiêu biểu của người chiến sĩ cách mạng kiên trung, người chỉ huy tài năng đã trải qua gần nửa thế kỷ chiến đấu, công tác trên nhiều chiến trường ác liệt trong và ngoài nước.
Phạm Bân sinh ngày 5 tháng 1 năm 1930 tại thôn Cẩm Sa, xã Điện Nam, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam (nay thuộc phường Điện Bàn Đông, thành phố Đà Nẵng). Lớn lên trong những năm tháng đất nước chìm trong ách đô hộ của thực dân, ông sớm giác ngộ cách mạng và tham gia phong trào yêu nước ngay từ tuổi thiếu niên.
Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, chàng thanh niên Phạm Bân hăng hái tham gia lực lượng vũ trang địa phương và chính thức nhập ngũ năm 1946. Từ những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, ông đã thể hiện phẩm chất gan dạ, mưu trí và tinh thần trách nhiệm cao. Năm 1948, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương, đánh dấu bước trưởng thành quan trọng trên con đường cách mạng.
Trong những năm kháng chiến chống Pháp, ông đảm nhận nhiều nhiệm vụ từ quân báo biệt động, tiểu đội trưởng đến cán bộ phụ trách lực lượng vũ trang địa phương. Sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954, ông tập kết ra Bắc, tiếp tục học tập, rèn luyện và trưởng thành trong môi trường quân đội chính quy. Được đào tạo tại Học viện Tăng – Thiết giáp của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc, ông trở thành một trong những cán bộ đầu tiên của lực lượng Tăng – Thiết giáp Quân đội nhân dân Việt Nam.
Cuối năm 1964, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước bước vào giai đoạn ác liệt, Phạm Bân trở về nước công tác tại Binh chủng Tăng – Thiết giáp. Năm 1968, ông tình nguyện vào chiến trường Khu 5 – một trong những chiến trường khốc liệt nhất miền Nam lúc bấy giờ.
Tại đây, ông lần lượt đảm nhiệm nhiều cương vị quan trọng như Trung đoàn trưởng Trung đoàn 31 thuộc Sư đoàn 2, Tham mưu phó Sư đoàn 711, phụ trách Tham mưu trưởng Mặt trận Tiên Phước, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 574 Tăng – Thiết giáp và Trưởng phòng Tăng – Thiết giáp Quân khu 5.
Dưới sự chỉ huy của ông, đơn vị đã tham gia nhiều chiến dịch lớn như Nông Sơn, Tiên Phước, Tam Kỳ và đặc biệt là Chiến dịch giải phóng Đà Nẵng mùa Xuân năm 1975. Những chiến thắng ấy đã góp phần làm nên thắng lợi vẻ vang của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, đưa đất nước đến ngày thống nhất.
Sau ngày non sông thu về một mối, người lính năm xưa vẫn tiếp tục lên đường làm nhiệm vụ quốc tế cao cả. Trong cuộc chiến bảo vệ biên giới Tây Nam và giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi chế độ diệt chủng, ông được giao giữ cương vị Sư đoàn trưởng Sư đoàn 307 – đơn vị chủ lực của Mặt trận 579 Quân khu 5. Ông cùng đồng đội chiến đấu, bảo vệ biên giới và giúp nhân dân Campuchia khôi phục cuộc sống sau chiến tranh.
Những năm sau đó, Phạm Bân tiếp tục đảm nhận trọng trách Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự Quảng Nam – Đà Nẵng, rồi Phó Tư lệnh Mặt trận 579. Không chỉ đóng góp trên chiến trường, ông còn tham gia công tác chuyên gia quân sự quốc tế tại Campuchia và Cuba, góp phần vun đắp tình đoàn kết hữu nghị giữa Việt Nam với bạn bè quốc tế.
Suốt cuộc đời quân ngũ, ông đã năm lần bị thương trong các cuộc chiến tranh nhưng chưa bao giờ lùi bước trước khó khăn, gian khổ. Những vết thương chiến tranh cùng năm tháng chiến đấu liên tục đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của ông. Ngày 24 tháng 7 năm 1995, Thiếu tướng Phạm Bân từ trần tại thành phố Đà Nẵng, khép lại cuộc đời 65 năm đầy cống hiến cho Tổ quốc.
Để ghi nhận những đóng góp đặc biệt xuất sắc của ông đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế, năm 2014, Chủ tịch nước đã truy tặng ông danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Cuộc đời Thiếu tướng Phạm Bân là hành trình của một người lính đi qua ba cuộc chiến lớn: kháng chiến chống thực dân Pháp, kháng chiến chống Mỹ cứu nước và chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam. Ở bất cứ chiến trường nào, ông cũng luôn thể hiện bản lĩnh của người cán bộ, người chỉ huy tận tụy, kiên trung và hết lòng vì nhân dân, vì Tổ quốc.
Tên tuổi của ông mãi là niềm tự hào của quê hương Quảng Nam anh hùng và là tấm gương sáng để các thế hệ hôm nay tiếp bước trên con đường xây dựng và bảo vệ đất nước.



