THIẾU TƯỚNG PHAN LƯƠNG TRỰC (ĐỖ HỮU CÔNG) - NGƯỜI CỘNG SẢN KIÊN TRUNG, TẤM GƯƠNG SÁNG VỀ LÒNG YÊU NƯỚC
Thiếu tướng Phan Lương Trực, tên thật là Đỗ Hữu Công, sinh năm 1930 và từ trần năm 2012, là một nhân chứng sống cho lịch sử cách mạng Việt Nam.
Thiếu tướng Phan Lương Trực, tên thật là Đỗ Hữu Công, sinh năm 1930 và từ trần năm 2012, là một nhân chứng sống cho lịch sử cách mạng Việt Nam. Ông không chỉ là một vị tướng tài ba, mà còn là một nhà giáo tâm huyết, một người con ưu tú của quê hương Tiền Giang. Cuộc đời ông là minh chứng sống động cho tinh thần yêu nước, ý chí đấu tranh bất khuất và sự cống hiến không ngừng nghỉ cho Tổ quốc. Tuổi Trẻ Và Con Đường Cách Mạng Sinh ra trong một gia đình tư sản dân tộc giàu lòng yêu nước tại làng Bình Đức, Châu Thành, Mỹ Tho (Tiền Giang), Đỗ Hữu Công sớm được thừa hưởng những giá trị tốt đẹp về lòng dân tộc. Ngay từ khi còn trẻ, ông đã thể hiện tinh thần ham học hỏi và ý chí vươn lên.
Năm 1941, sau khi học hết lớp Nhì trường làng, ông lên Sài Gòn học nghề sửa chữa xe ô tô và trở thành thợ giỏi. Cuối năm 1944, ông trở về quê nhà tham gia hoạt động trong tổ chức thanh niên. Thấy ông chỉ mới 15 tuổi, nên gia đình cho ông lên Cái Bè tiếp tục đi học.
Ở Cái Bè, ông được thầy giáo Phan Lương Trực trực tiếp dạy học. Từ cuối năm 1944 đến cuối năm 1945, ông được theo thầy hoạt động cách mạng, đi diễn thuyết khắp nơi trong tỉnh. Từ đó, ông tiếp thu những kiến thức cơ bản về chính trị, quân sự và chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi tấm gương yêu nước, ý chí đấu tranh bất khuất, kiên cường của người thầy giáo thân yêu của mình.
Tháng 5-1946, ông vào bộ đội, khởi đầu binh nghiệp ở tuổi 17 với chiến công đầu tiên là trận diệt đồn Kinh Xáng. Tháng 8-1946, thầy giáo Phan Lương Trực anh dũng hy sinh tại xã Tường Đa, quận An Hóa, tỉnh Mỹ Tho (nay là xã Tường Đa, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre). Tháng 8-1947, kỷ niệm 1 năm ngày Nhà giáo - Nhà quân sự Phan Lương Trực anh dũng hy sinh vì nước, ông Công xin phép các đồng chí cấp trên cho lấy tên người thầy kính yêu làm bí danh. Từ đây cái tên Phan Lương Trực gắn bó suốt cuộc đời binh nghiệp của ông.
Ngày 15-8-1948, ông Công vinh dự được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam). Từ tháng 8-1948 đến tháng 7-1954, ông lần lượt giữ các chức vụ: Tiểu đội trưởng, Chính trị viên trung đội, Chính trị viên đại đội, Phó Bí thư Chi bộ kiêm Đại đội trưởng Đại đội 2053 của Tiểu đoàn 410 chủ lực Nam bộ, Phó Trưởng ban Tác huấn của Tiểu đoàn 404, Quân khu 8.
Sau Hiệp định Genève (7-1954), ông Công tập kết ra miền Bắc. Năm 1958, ông là học viên khóa 11 Trường Lục quân với quân hàm Thượng úy. Từ năm 1961 - 1964, ông là học viên khóa I của Học viện Quân chánh. Sau khi ra trường, ông được thăng quân hàm Đại úy, công tác tại Sư đoàn 338.
Tháng 3-1965, ông Công trở về miền Nam chiến đấu, làm cán bộ nghiên cứu Phòng tác chiến, Bộ Tham mưu Miền. Từ năm 1970 đến ngày 30-4-1975, ông làm Trưởng ban Tác chiến, Quân khu 8 với quân hàm Thiếu tá, góp phần tạo nên những chiến công vang dội của lực lượng vũ trang Quân khu 8.
Từ năm 1975 - 1978, ông Công là Trung tá, Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Đồng Tháp. Trong cương vị này, ông cùng với Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh thực hiện tốt các nhiệm vụ: Chỉ huy lực lượng vũ trang phối hợp dân quân du kích đánh bọn Pôn - Pốt (Khmer đỏ) xâm lấn biên giới nước ta, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ; cưu mang, đùm bọc, đào tạo số cán bộ Campuchia chạy sang Việt Nam lánh nạn diệt chủng để khi có điều kiện đưa họ trở về nước công tác; chủ động đào tạo sĩ quan trẻ cả về văn hóa lẫn quân sự để thay thế số cán bộ lớn tuổi nghỉ hưu hoặc chuyển ngành; thành lập 2 nông trường Đường Thét và Giồng Găng hoạt động có hiệu quả, góp phần xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội - quốc phòng ở vùng Đồng Tháp Mười…
Năm 1980, ông Công được thăng quân hàm Thiếu tướng, Phó Tư lệnh Quân khu 9, Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Tiền Giang. Ở cương vị này, đối với Tiền Giang, ông cùng với Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh hoàn thành tốt nhiệm vụ tuyển quân; huấn luyện, xây dựng lực lượng vũ tranh tỉnh nhà không ngừng lớn mạnh về mọi mặt. Trong những năm làm nghĩa vụ quốc tế ở chiến trường Campuchia, ông hết lòng giúp đỡ, luôn gắn bó, tin tưởng và tôn trọng lực lượng cách mạng của nước bạn; giáo dục cán bộ, chiến sĩ thấm nhuần quan điểm của Đảng trong thực hiện nhiệm vụ…, góp phần giúp đỡ nhân dân Campuchia hồi sinh, xây dựng đất nước.
Năm 1997, ông Công nghỉ hưu. Năm 2012, do tuổi cao sức yếu, ông lâm bệnh từ trần. Nhận xét về ông Công, Đại tá Lê Dũng, nguyên Chủ tịch Hội Cựu chiến binh tỉnh Tiền Giang, viết: “Thiếu tướng Đỗ Hữu Công/Phan Lương Trực là vị tướng toàn năng, với phong cách chỉ huy mẫu mực và có tầm nhìn chiến lược…”.


