Bài viết

Thoe bước chân người trinh sát năm xưa

Lời kể của ông tôi về những năm đi trinh sát trong chiến tranh.Ông tôi tên là Phạm Văn Kình, nhập ngũ năm 1968, thuộc biên chế đội Trinh sát ngoại biên, đóng quân tại đồn Cà Roòng. Ông kể, lần đầu tiên sang Lào đi cùng ông Phinh – đội trưởng, với các đồng đội là anh Thành người Thanh Hóa, anh Hữu người Bố Trạch, anh Hạch người Quảng Ninh và hai người nữa ở Cà Rồng.

Quảng Trị21/01/2026Đoàn xã Nam Gianh2 lượt xem0 lượt chia sẻ
Theo bước người trinh sát năm xưa

Lời kể của ông tôi về những năm đi trinh sát trong chiến tranh.Ông tôi tên là Phạm Văn Kình, nhập ngũ năm 1968, thuộc biên chế đội Trinh sát ngoại biên, đóng quân tại đồn Cà Roòng. Ông kể, lần đầu tiên sang Lào đi cùng ông Phinh – đội trưởng, với các đồng đội là anh Thành người Thanh Hóa, anh Hữu người Bố Trạch, anh Hạch người Quảng Ninh và hai người nữa ở Cà Rồng.

Khi đến khu vực số 68, đơn vị bị đánh rất dữ dội. Bom đạn đủ loại nổ liên hồi, trời tối sầm, xung quanh bị san bằng. Ông nói, mìn nổ thì không chết liền mà tan xác. Trong hoàn cảnh ấy, ông đội trưởng dặn: “Các đồng chí đi cách tôi 10m, chân tôi bước mô thì các đồng chí bước vào đó.” Cả tiểu đội cứ thế lần theo từng bước.

Khoảng 3 giờ chiều, cả đội gặp biển cấm ghi: “Từ trường chưa nổ cấm đi.” Ông đội trưởng quan sát rồi nói: “Có dấu chân mới đi khoảng 2 đến 3 ngày, có lẽ họ chưa kịp thu biển cấm.” Đơn vị tiếp tục hành quân. Vài giờ sau lại gặp thêm một biển cấm nữa, ông đội trưởng nói: “Thôi, quả này là quả đã nổ rồi rô , thôi đi tiếp .”

Trước khi đi tiếp, ông dặn: “Đứng cách tôi 50m, có việc gì thì vẹn về báo cho cho đơn vị chớ đừng có tiến nữa.” Ông tôi kể lúc đó sợ đến mất vía, chỉ biết cầu mong bình an: “Mần răng mà về không có việc gì chớ, ông đội trưởng mà bị cái gì tan xác thì ở đó có mà chết đói chết khát.” Trong người chỉ còn vài con dao, không nước uống, không biết quay lại đường nào.

Khi vào được hang trạm giao liên, mọi người mặt mày đen xì. Giao liên quát: “Bọn xi xi cha không phải ngài, không biết sợ chết hả, không chộ biển cấm hả.” Ông tôi đáp: “Chộ hai ông chết tui mất hồn mất vía, không tin được đó là sự thật. Chớ con ngài ai cũng biết sợ, hắn mới nổ xong thế.” Ông kể thêm, khi qua biển cấm đầu tiên, cả tiểu đội đều bỏ hết đồ sắt vì bom từ trường rất nguy hiểm.

Ông còn nghe kể về vụ bom từ trường Mỹ thả xuống một kho hàng. Sau nhiều ngày xử lý không nổ, đến khi các kỹ sư dùng dụng cụ bằng nhôm kiểm tra thì bom phát nổ, sáu người hy sinh. Đồ đạc còn lại được chia làm sáu phần, đặt lên sáu nấm mộ của Trung đoàn 559.

Khi vào sâu trong đất Lào, dân đã di cư gần hết. Một ông phó trưởng bản cho biết chỉ còn đường khó đi. Đến Tàu Hưng, cả đội ở nhờ nhà một người Lào tên Khon. Gặp lụt, hết gạo, ông phó bản nói: “Hết gạo thì để dân nuôi.” Trong cảnh chiến tranh, dân nghèo đói nhưng rất nghĩa tình, ai xin gì cũng sẵn lòng cho.

Tiểu đội của ông cứ 2–3 tháng lại về đồn Cà Roòng, tuyến 20, hang Tám Cô. Sau năm 1970, ông tiếp tục công tác tại Ban An ninh Khu Trị Thiên, từng đi chiến trường C ( chiến trường Lào), thường nằm vùng trong dân. Ông nói, đời ông gắn liền với trinh sát nên luôn gắn bó với nhân dân

Năm 1976, ông nộp đơn phúc viên. Đồng đội sững sờ, có người nói thẳng: “mày điên à, thời kì khổ thì ở, còn thời kì sung sướng thì bỏ về.” Ông chỉ lặng lẽ chọn về với cha mẹ và vợ ở quê nhà.


Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Thoe bước chân người trinh sát năm xưa | Câu chuyện thời hoa lửa